Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

Gửi trăng rằm cho con


Chẳng là, rằm tháng tám năm Kỷ Sửu – 2009, tôi không về vui Trung thu cùng hai con được, mặc dù hôm đó là thứ bảy. Cũng là câu chuyện thường tình của người lính. Tôi rất áy náy vì đã trót hứa là sẽ về với hai con, bởi đã biết trước hôm đó không phải là lịch trực của mình. Bất ngờ tôi lại được phân công trực.
Thế là đã mấy trung thu tôi đều vắng nhà. Cuộc đời bộ đội, cống hiến suốt đời là để giữ lấy nền hoà bình cho Tổ quốc, cho mọi người, trong đó có cả những đêm trung thu yên bình cho con trẻ, có bố, có mẹ cùng ngắm trăng thu. Vậy mà nay trong hoà bình con mình vẫn chưa được hưởng một điều tưởng như đơn giản ấy. Nếu có ai đó hiểu biết và cảm thông một chút sẽ không để điều này xảy ra, bởi có nhiều người ở rất gần doanh trại, còn chúng tôi quanh năm xa nhà. Trong lòng cũng thầm trách cái vô tình ấy. Tức cảnh tôi mới làm một đoạn văn vần và có đính kèm một bức tranh chị Hằng Nga (hai câu cuối trong tranh có khác) gửi mail cho 2 con trai:
Bức tranh Chị Hằng Nga

Vắng bố không quà, cũng không hoa
Trăng rằm tròn mấy cũng rất xa
Xưa bố treo trăng trên đầu súng
Nay trăng theo bố lại vắng nhà.
Lỡ hứa bố bỗng thành chú cuội
Đèn lồng đành để dưới gốc đa.
Chỉ trách “Chị Hằng” sao vụng thế?!
Chẳng đến mang trăng ghé qua nhà.

Nhận được mail tôi gửi, cháu chữa lại thế này:
Vắng bố, mẹ thay bố mua quà
Trăng rằm tròn mắt bởi nhớ cha
Xưa bố treo trăng trên  đầu súng
Nay trăng  bố gửi đã đến nhà.
Hay đùa nên bố thành chú cuội
Đèn lồng bố gửi chị Hằng Nga.
Chỉ trách chị Hằng đi chậm quá!
Bởi thế nên trăng mới khóc oà.

          Mấy hôm sau đọc lại, tôi thấy cũng buồn cười cho mình. Bố tâm sự về trăng rằm có phần sâu xa, còn con trẻ lại hiểu mọi điều vô cùng trong sáng. Lòng tôi thầm nghĩ, hãy để cho tâm hồn trẻ thơ mãi trong sáng như trăng rằm thế. Rồi mai đây, khi cháu chuẩn bị bước vào đời, tôi sẽ nói với cháu những điều sâu xa này, để cháu giữ được tấm lòng trong sáng khi đã trở thành người lớn.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Hãy hỏi tôi trước khi nói hộ


Tôi suýt nhảy dựng lên khi đọc thấy tên mình trên mặt báo.
Nhà báo hoàn toàn có ý tốt khi lấy tên tôi để mở đầu cho một đoạn văn rất nghiêm trang. Thế nhưng tôi lại chẳng yên tâm chút nào khi người viết dùng văn chưa thật đúng cho một vấn đề rất đáng được trân trọng.
Trong tờ QN cuối tuần ngày 29/7/2012, khi nói về chuyến thăm của Đoàn cán bộ chúng tôi đến viếng các Liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn và Nghĩa trang Đường 9 có viết: Đồng chí Nguyễn Tr …. Phó Chính ủy ngẹn ngào nói: “ … có những trận đánh chiến sĩ ta hi sinh gần hết, xác chồng lên xác”.
Câu văn ấy làm cho tôi không thấy yên lòng.
Thứ nhất: Không có một người phó chính ủy nào khi nói về đồng đội hi sinh lại tả bằng một giọng ngẹn ngào. Bởi đây là những cái hi sinh bi tráng không phải bi thương, sự hi sinh của các liệt sĩ là sự oanh liệt và đáng giá cho một nền hòa bình độc lập của Dân tộc. Là người cán bộ của thế hệ sau này nhưng cũng đã từng kinh qua một thời bom đạn, chứng kiến những hi sinh, mất mát trên chiến trường, có chăng khi nói về những hi sinh, mất mát đó phải nói bằng một giọng rất nghiêm trang và trầm xuống. Đó là một cái khóc trong sâu thẳm tâm can gang thép của người lính.
Thứ hai: Khi nói về sự hi sinh của đồng đội mình, không thể nào nói xác chồng lên xác được. Mỗi một cái chết của người chiến sĩ trên mặt trận đều mang một chiến công, một dáng dấp, đó là những hi sinh vô cùng lớn lao, cao cả. Họ hi sinh trong khi đang chiến đấu, hi sinh bên nhau nhưng là trong sự hiệp đồng, có thể họ che chở cho nhau, hứng bom đạn cho nhau và lớn lao hơn là cho Tổ Quốc, cho Dân tộc. Khi nói về họ, nếu là tôi nói, tôi sẽ nói rằng, thi thể của họ ngã xuống dầy đặc đất này, lẫn vào lòng Tổ quốc và vun xới cho màu xanh của mặt đất, bầu trời hòa bình, độc lập hôm nay.
Xin cám ơn nhà báo đã có ý tốt, nhưng nếu cho tôi nói hãy hỏi tôi nói gì thì tốt hơn là nói hộ.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Tiếng hát làm rung động triệu con tim

Tại cuộc thi tìm kiếm tài năng - Chương trình giáo dục TQ. Cậu bé Uudam (Mã Đạt Mộc) 12 tuổi đến từ Nội Mông bước lên sân khấu với dáng vẻ rất tự tin. Giám khảo hỏi:
Trông em mặc sắc phục giống Người Mông cổ, Em đến từ đâu?
-Em đến từ Nội mông. .
-Đó có phải là một đồng cỏ lớn?
-Đúng ạ.
-Vậy Ước mơ của em là gì?
-Em muốn phát minh ra một loại mực mà khi nhỏ xuống đất nó biến cả trái đất thành đồng cỏ bát ngát.
-Ồ..!! (Cả khán trường bất ngờ) Em biểu diễn tiết mục gì?
-Em hát.
-Em hát bài gì?
-Em hát bài "Giấc mơ về er jí".
-Er jí là gì?
-Là mẹ ạ.
-Tại sao em hát bài này?
-Vì cứ mỗi lần nhớ mẹ em lại hát bài này.
-Thế bây giờ mẹ em đang ở đâu?
-Mẹ đang ở trên thiên đàng.
-Ồ.ồ ...! (Bất ngờ không khí trầm xuống)
-Vậy cha em đâu?
-Cha em đã mất sau một vụ tai nạn giao thông.
-Ồ..................(Lại một lần bất ngờ đau xót nữa)
Khán phòng lặng đi một hồi lâu.
-Bây giờ em hát được chứ?
-Vâng ạ.....


"Trong đất trời bao la, em mơ thấy mẹ em đang cầu nguyện cho em. Mẹ đưa cho em sữa, thứ quí giá nhất của đất trời. Mẹ của em đang ở một nơi rất xa. Khi những vì sao đang lấp lánh trên đồng cỏ xanh, em lại nghĩ về khuôn mặt ân cần của mẹ. Mẹ ở thiên đường và luôn cầu nguyện cho em một cuộc sống bình an, hạnh phúc. Mẹ ở một nơi rất xa, mẹ ơi hãy đợi con..."
Cậu cứ say sưa hát và đã làm nhỏ lệ cả khán phòng và hàng triệu con tim trên thế giới.

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

ĐỀN THỜ KHÚC THỪA DỤ


  
Đền thờ Khúc Thừa Dụ tại thôn Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 

Đền thờ họ Khúc bên bờ sông Luộc


  TÓM TẮT THÂN THẾ, SỰ NGHIỆP TIÊN CHÚA KHÚC THỪA DỤ


          Trong những người có công đầu dựng nước, Khúc Thừa Dụ được lịch sử ghi nhận là người đặt nền móng đầu tiên cho nền độc lập tự chủ, khôi phục quốc thống sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.
          Khúc Thừa Dụ quê ở Trang Cúc Bồ (nay thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) là một hào trưởng, thuộc dòng họ lớn lâu đời ở Hồng Châu, tài đức vẹn toàn, tính khoan hoà, hay thương người, được dân chúng suy tôn ...
           Năm 905, triều đại nhà Đường đang đổ nát, giai cấp thống trị Trung Hoa phân tranh gay gắt ; ở nước ta nhân dân luôn nổi lên tranh đấu khiến Đốc Cô Tổn, tên Tiết độ sứ khét tiếng gian ác phải sợ hãi bỏ chạy. Chớp thời cơ, Khúc Thừa Dụ đứng lên, tự xưng là Tiết độ sứ ... tiến vào thành Đại La, lãnh đạo quan quân, giành quyền tự chủ một cách hoà bình. Trong  tình thế không thể cưỡng lại được, nhà  Đường buộc phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của họ Khúc. Năm sau (Thiên Hựu thứ 3, tháng 2 ngày 7, tức  01/02/906), vua Đường gia phong cho ông chức Đồng bình Chương sự, chức quan cao nhất ở ngoại biên, được ngồi ngang hàng với các thân vương, quan nhất phẩm Nhà Đường để bàn thế sự. Bề ngoài là quan triều đình phương Bắc, nhưng thực chất ông dùng quyên lực trong tay để điều hành, cải cách đất nước, xây dựng nền dộc lập. Việc Khúc Thừa Dụ giành được quyền nắm vận mệnh đất nước là thành tựu to lớn, một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc.
          Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, nhưng quyền tự chủ đã được xác lập. Con ông là Khúc Hạo lên thay, kế tục xuất sắc sự nghiệp của Tiên Chúa, ra sức thu dụng nhân tài, tiến hành cải cách toàn diện và sâu sắc, thay đổi căn bản nền hành chính và tổ chức bộ máy nhà nước. Đất nước được hưng thịnh, nhân dân được yên vui, càng thiết tha với việc giữ gìn nền độc lập tự chủ. Nhờ vậy, mặc dù năm 917 Khúc Hạo băng hà, con trai là Khúc Thừa Mỹ kế tục chỉ  được 6 năm thì bị giặc bắt (năm 923), nhưng sự nghiệp lớn lao của họ Khúc để lại đã là cơ sở vững vàng, tạo tiền đề chắc chắn cho Dương Đình Nghệ đánh bại Lý Tiến( năm 931), cho Ngô Quyền đại thắng Bạch Đằng (năm 938) khẳng định dứt khoát quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Khúc Tiên Chúa và nhưng người kế nghiệp đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Bắc Thuộc hàng nghìn năm, mở đầu kỷ nguyên độc lập của quốc gia Đại Việt.
             Đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân, nêu cao đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", hướng tới mục đích giáo dục truyền thống Yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, ngày 02/01/2004, UBND tỉnh Hải Dương đã quyết định xây dựng Đền thờ Khúc Thừa Dụ tại thôn Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, để các thế hệ người Việt Nam mỗi khi về thăm di tích đều tự  hào và không bao giờ quên công ơn của người xưa.
Nguyễn Trung Việt - Du khách đến viếng đền

       VÀI NÉT VỀ QUÊ HƯƠNG VÀ ĐÌNH THỜ 
KHÚC THỪA DỤ  
   
       Tổ Họ Khúc đất Hồng Châu :
        Các sử sách xưa nay khi nói đến sự nghiệp gây dựng nền độc lập tự chủ của Họ Khúc đầu thế kỷ thứ X đều khẳng định :  Khúc Thừa Dụ quê ở Hồng Châu  (Cúc Bồ - Ninh Giang).Lịch sử Việt Nam tập I viết :" Năm 906, nắm lấy cơ hội chính quyền Trung ương nhà Đường hấp hối, chính quyền đô hộ ở nước ta như rắn mất đầu, nhân dân ta lại một lần nữa kiên quyết đứng dậy tự quyết định lấy vân mệnh của đất nước. Một người được nhân dân ủng hộ là Khúc Thừa Dụ ở đất Hồng Châu đã đứng lên tự xưng là Tiết độ sứ, lợi dụng bộ máy và danh nghĩa của bọn đô hộ chuyển sang giành độc lập một cách vững chắc".
        Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh trong "Đất nước qua các đời" (Nhà xuất XB Thuận Hoá 1994) thì Hồng Châu thuộc quận Giao Chỉ thời thuộc Đường, nằm gọn vào huyện Chu Diên của quận đó (tr.107). Theo Trọng Huân trong "Quê hương Ninh Giang" (NXBTN 1996) thì tên Hồng Châu hay Hồng Lộ xuất hiện vào thời Lý - Trần. Đến cuối Trần  đầu Hậu Lê thì Hồng Châu chia thành Thượng Hồng và Hạ Hồng. Thượng Hồng là Cẩm Giàng, Bình Giang, Yên Mỹ, Văn Lâm ngày nay. Hạ Hồng gồm : Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện ngày nay. Sang đời Quang Thuận nhà Hậu Lê (1460 - 1669) phủ Hạ Hồng quản 4 huyện : Trường Tân (Gia Lộc), Tứ Kỳ, Thanh Miện, Vĩnh Lại (gồm Ninh Giang, Vĩnh Bảo). Năm Minh Mạng thứ III (1822) phủ Hạ Hồng mang tên mới là phủ Ninh . Như vậy : Hồng Châu xưa bao gồm một phần đất của tỉnh Hưng Yên, một phần đất của Hải Dương và một phần của Hải Phòng bây giờ. 
    
         Cúc Bồ là làng "cổ", có tên nôm gọi là "Gọc" Có hai làng gần nhau. Làng nằm cạnh sông Luộc có bến sông gọi là "Gọc bến" (Cúc Bồ). Làng có "Chợ Gọc" gọi là "Gọc Chợ" (Cúc Thị). Ở Kiến Quốc hiện nay có 5 làng thì 3 làng mang tên "Cúc" : Cúc Bồ, Cúc Thị, An Cúc.  Có thời kỳ nhập Ngọc Chi - An Cúc gọi là Ngọc Cúc.
         Hiện nay ở Ninh Giang và các huyện ở tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình không có địa danh nào mang tên "Cúc" mà chỉ có ở Kiến Quốc mà thôi. Cúc Bồ nằm sát bên bờ sông Luộc, cách thị trấn Ninh Giang khoảng 8 km theo đường chim bay về hướng tây. Cúc Bồ có đình thờ Khúc Thừa Dụ và Khúc Hạo, người đặt nền móng gây dựng nền tự chủ đầu thế kỷ thứ X của Việt Nam.
       Năm 907 "Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo giữ Giao Châu, tự xưng là Tiết độ sứ". Khúc Hạo đã tiến hành cuộc cải cách khá quy mô, khiến nền tự chủ của Giao Châu vững mạnh lên, có thể đương đầu được với quân xâm lược Nam Hán Lưu Ân ở Phiên Ngung.

Sử sách ghi chép rất vắn tắt về những năm tháng thời kỳ này nhưng chắc chắn trong 2 năm trị vì ngắn ngủi của cha, Khúc Hạo đã có đóng góp đáng kể trong việc trị sự, bởi vậy khi lên nắm quyền, ông là nhà cai trị ôn hoà nhưng rất vững vàng.
Tháng 7 năm 907, Khúc Hạo lên thay cha. Nhà Hậu Lương lên thay nhà Đường công nhận ông làm “An Nam đô hộ, sung Tiết độ sứ”. Ông đã kế tiếp sự nghiệp của cha một cách tài tình để củng cố sự nghiệp độc lập của Việt Nam lúc đó từ tay Trung Quốc.
Khúc Hạo đã tiến hành cải cách quan trọng về các mặt. Đường lối chính trị của ông được sử sách tóm lược ngắn gọn song rất rõ ràng: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Khoan dung tức là không bắt buộc, không quá khắt khe với dân, chống tham quan ô lại. Giản dị là không làm phiên hà, sách nhiễu bởi nhiều thủ tục quan liêu. Yên vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống mà người nông dân nơi thôn xóm mong đợi.
Khúc Hạo sửa lại chế độ điền tô, thuế mà lực dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Ông ra lệnh “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi”.
Từ mô hình của chính quyền đô hộ nhà Đường với An Nam, nhằm khắc phục tình trạng phân tán quyền lực vào tay các thủ lĩnh địa phương, Khúc Hạo đã có những cố gắng lớn đầu tiên nhằm xây dựng chính quyền độc lập, thống nhất từ trung ương đến xã. Ông chia cả nước thành những đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu, giáp, . Mỗi xã đặt ra xã quan, một người chánh lệnh trưởng và một người tá lệnh trưởng. Một số xã ở gần nhau thời thuộc Đường gọi là hương nay đổi là giáp, mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc kê hộ khẩu, nhân khẩu và việc thu thuế. Theo sách “An Nam chí nguyên”, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp trước đây nhà Đường đặt, cả thảy toàn bộ Tĩnh Hải quân có 314 giáp.
Nhà Hậu Lương, trước đây vì mới cướp ngôi nhà Đường, phương Bắc nhiều biến cố nên thừa nhận Khúc Hạo làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân năm 907. Nhưng qua năm sau, vua Hậu Lương là Chu Ôn lại phong cho Tiết độ phó sứ ở Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm chức “Tĩnh Hải quân tiết độ, An Nam đô hộ”. Điều đó có nghĩa là người Trung Quốc vẫn muốn chiếm lại Việt Nam.
Sự cai trị vững vàng của Khúc Hạo khiến họ Lưu ở Quảng Châu không dám nhòm ngó tới phương nam.
Khi được tăng cường lực lượng từ các sĩ dân trung nguyên di cư xuống phía Nam, Quảng Châu mạnh lên, tháng 9 năm 917, em Lưu Ẩn là Lưu Nghiễm (lên thay từ năm 911) bèn xưng đế, lập ra nước Nam Hán, một trong Mười nước thời Ngũ đại Thập quốc.
Nhận thấy nguy cơ từ phía họ Lưu, Khúc Hạo sai con là Khúc Thừa Mỹ làm “khuyến hiếu sứ” sang Quảng châu, bề ngoài là để ‘‘kết mối hoà hiếu’’, song bề trong cốt là xem xét tình hình hư thực của địch. Cuối năm 917 khi Khúc Thừa Mỹ trở về thì Khúc Hạo mất. Dù ông chưa từng xưng đế hay xưng vương nhưng đời sau nhớ công lao của ông và gọi ông là ‘‘Khúc Trung chủ’’.
Do hành động ngoại giao mềm dẻo của Khúc Hạo, Nam Hán không gây hấn với Tĩnh Hải quân. Sau này, do Khúc Thừa Mỹ thất sách cả trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại nên Tĩnh Hải quân mới bị Nam Hán xâm chiếm.
         Về nội trị, Khúc Hạo được đánh giá là nhà cải cách hành chính đầu tiên ở Việt Nam. So với trước đó, số đơn vị hành chính thời Khúc Hạo được tăng lên gấp đôi. Như vậy về chiều rộng, chính quyền trung ương đã vươn tới nhiều nơi hơn trên địa bàn cai trị. Việc đưa nhân khẩu vào quản lý chặt chẽ hơn tại các đơn vị hành chính tạo điều kiện tăng cường nhân lực cho các hoạt động kinh tế, quân sự của chính quyền.
Vào thế kỷ 10, trong khi các hào trưởng địa phương ít nhiều có xu hướng độc lập, cát cứ với chính quyền trung ương (ngay cả các triều đại Ngô, Đinh sau đó cũng vậy), Khúc Hạo đã khéo léo dựa vào họ để củng cố chính quyền cơ sở.
Cuộc cải cách của ông tạo cơ sở kinh tế, xã hội vững chắc cho nền độc lập, tự chủ của người Việt sau này.
Về đối ngoại, hoàn cảnh lịch sử khi Khúc Hạo cầm quyền có khó khăn hơn nhiều so với các triều đại sau này, vì Việt Nam vừa thoát ra khỏi sự ràng buộc với Trung Quốc và trên danh nghĩa chưa được là chư hầu của Trung Quốc (giống các triều đại sau), mà vẫn đang là một “quân” (đơn vị hành chính lúc đó), một bộ phận cấu thành Trung Quốc.
Hiểu rõ thời cuộc, tự biết thực lực của mình, Khúc Hạo đã sáng suốt không xưng đế hay xưng vương để gây sự chú ý của phương bắc, dù khi đó tại các vùng lãnh thổ liền kề trở lên trên phía bắc, những người cai quản các phiên trấn lũ lượt xưng đế hiệu hoặc vương hiệu. Tuy vậy, đời sau vẫn nhìn nhận hành động, công trạng của ông không kém gì một vị đế vương của Việt Nam. Ông là người có công lao nổi bật nhất trong 3 đời họ Khúc xây dựng nền tự chủ.
Chính việc “im hơi lặng tiếng” của ông, không hùa theo những tiếng trống đế vương gõ rộn ràng ở phương bắc lúc đó giúp ông có có thời gian củng cố chính quyền, nuôi dưỡng sức dân, tạo cơ sở cho những người đi tiếp đưa lịch sử Việt Nam thẳng tiến về thế và lực. Công cuộc cải cách hành chính của Khúc Hạo được các nhà sử học nhận định là đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam mà các triều đại sau đó sẽ hoàn thành.
Thành quả của ông tuy không được Khúc Thừa Mỹ kế tục xứng đáng để gìn giữ nhưng sau này có Dương Đình Nghệ lấy lại và sau đó nữa, họ Ngô đã xưng vương rồi từ họ Đinh trở đi đã xưng đế, chính thức trở thành nước độc lập. Lúc họ Đinh xưng đế, dù Trung Quốc đã nhất thống trở lại dưới tay nhà Tống, biên giới đã liền kề nhưng không thể chiếm lại Việt Nam như nhà Đường được nữa. Hiển nhiên đó là nhờ tài năng, công trạng của những người cầm quyền về sau nhưng cơ sở ban đầu không thể không nói đến ông. Không phải ngẫu nhiên mà họ Khúc và Dương Đình Nghệ đương thời cùng làm Tiết độ sứ, nhưng đời sau tôn họ Khúc là Khúc vương còn Dương Đình Nghệ chỉ được gọi là Dương công.
             Khi Khúc Hạo mất (911), Khúc Thừa Mỹ lên thay, được nhà Lương trao cho chức Tiết độ sứ. Nhà Lương và Nam Hán vốn thu địch nhau nên năm 923 Lưu Cung, vua Nam Hán, lấy cớ họ Khúc nhận chức Tiết độ sứ của nhà Lương, đã sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh Khúc Thừa Mỹ, bắt Khúc Thừa Mỹ đưa về Nam Hán.
        Chính quyền của họ Khúc tuy không còn tồn tại nhưng những gì họ Khúc đã làm cho Giao Châu như tự chủ về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội qua cuộc cải cách, đã giúp cho nhân dân Giao Châu tiếp tục đứng lên gìn giữ thành quả ban đầu vừa giành được. Theo Cương mục đã chép :
        " Chúa Nam Hán, sau khi bắt được Thừa Mỹ, sai tướng là Lý Tiến sang làm thứ sử, cùng với Khắc Chinh đóng giữ Giao Châu.Dương Diên Nghệ lấy tư cách là tướng cũ của Khúc Hạo, tập hợp quân sỹ, đánh bại Khắc Chính... Chúa Nam Hán ý muốn chiêu dụ, tạm phong tước vị cho Diên Nghệ"(Sdd, trang 164)
        Nhưng đến năm  931 " Tháng 12, mùa đông, Dương Diên Nghệ đã đánh đuổi Lý Tiến, giết Trần Bảo, lấy lại Giao Châu, tự xưng là Tiết độ sứ" (Sdd, trang 165).
       Như vậy, nhân dân Giao Châu cũng đã lập được chiến công quân sự để bảo vệ quyền tự chủ của mình.
       Nếu lúc đầu Dương Diên Nghệ mới được Nam Hán tạm phong là Tiết độ sứ, thì nay ông đã ngang nhiên "Tự xưng là Tiết độ sứ". Điều này biểu lộ rõ tinh thần tự chủ mãnh liệt của nhân dân Giao Châu nhờ dựa vào sức mạnh của chính mình.
       Nhưng một sự kiện tiêu cực xảy ra là : "Tháng 3, mùa xuân Đinh Dậu (937), Nha tướng của Dương Diên Nghệ là Kiều Công Tiễn đã giết Diên Nghệ và lên thay Diên Nghệ".
       Năm Mậu Tuất (938), tháng 9 mùa thu, tức sau hơn một năm con rể Dương Diên Nghệ đang coi giữ Ái Châu, đã khởi binh đánh giết Kiều Công Tiễn. Chúa Nam Hán, Lưu Cung sai con là Hoằng Tháo sang cứu viện, bị Ngô Quyền đón đánh ở sông Bạch Đằng, quân Nam Hán thua, Hoằng Tháo bị chết đuối.
        Năm Kỷ Hợi (939) Ngô Quyền tự xưng vương đóng đô ở Cổ Loa, dựng nên vương triều Ngô - một vương triều chính thống đầu tiên trong lịch sử trung đại Việt Nam.
       Tiến trình lịch sử kể trên chứng minh rõ ràng : " Có sự dấy nghiệp của họ Khúc mới có chiến công của Dương Diên Nghệ và Ngô Quyền cũng như mới có sự ra đời của vương triều Ngô. Vì vậy theo sự "công minh của lịch sử" mà xét : Nếu Ngô Quyền là người đầu tiên xây dựng được vương triều phong kiến, thì họ Khúc cũng là người đầu tiên " ... đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc" như Lịch sử Việt Nam tập I (đã dẫn) đã thừa nhận.
       Nói về Đình Cúc Bồ, nằm ở phía Nam làng Cúc Bồ (Ngay phía sau Đền hiện nay), cách bờ đê khoảng 500 m trên một khu đất cao so với cư dân gần 2 m, mảnh đất hình chữ nhật chiều dài khoảng 600m rông 300 m. Hiện nay chưa xác định rõ ngôi đình có tự bao giờ. Theo các cụ kể lại, từ thuở xa xưa có ngôi đình gọi là  đình Đồng Cói (Hiện ở đất Quỳnh Hoa- Quỳnh Phụ - Thái Bình). Bên Quỳnh Hoa có làng Bồ Trang, có tiếng "Bồ" giống Cúc "Bồ". Dòng sông chuyển mình đình Đồng Cói rời về nơi này (?) : Năm 1918 làng dựng lại ngôi đình mới nguy nga, đồ sộ. Kết cấu theo kiểu chữ "công" gồm 7 gian ngoài, 3 gian hậu cung, cột có đường kính 0,65 m, mái đao, góc giao moi, bẩy đục tứ quý, các vì đục trò vui dân gian, hai bên có 2 giải vũ mỗi cái rộng 5 gian, có 3 cổng ra vào. Trước đình có ao rộng, nằm cạnh đó có 2 giếng mắt rồng. Ngôi đình là nới hội tụ nghệ thuật kiến trúc điêu khắc của các triều đại Lê - Nguyễn, do 7 hiệp thợ của làng đã một thời nổi tiếng xứ Đông về làm đình, đứng ra đảm nhiệm. Tiếc rằng ngôi đình đã bị thực dân Pháp phá đi đầu năm 1949, khi chúng về đóng bốt tại đinh cùng với quần thể Đền, Miếu chùa, (cách ngôi đình 800 m về phía Tây kề với Cúc Thị). Nhân dân Cúc Bồ đã khôn khéo đấu tranh với địch tháo dỡ, cất dấu toàn bộ ngôi miếu về trong làng. Năm 1978 mới chuyển về dựng trên nền đình cũ. Cũng từ năm 1951 ngôi miếu được gọi là Đình (ngôi miếu này đã trùng tu năm Tân Hợi đời vua Duy Tân (1911). Ngôi đình này là công trình chạm khắc có giá trị. Trong đình còn lưu giữ được : Sập thờ, khám thờ, ỷ, ngai, kiệu, mũ đồng, đai lưng, hài và những đồ tế tự thời Lê - Nguyễn. Đáng lưu ý là bức cuốn thư tạo dựng năm Canh Thìn (1940) niên hiệu Bảo Đại trong đó có ghi "Tổ linh thiêng biến hoá trên đời. Muốn phúc lớn phải có lòng tôn quý. Lòng nhân từ lớn lao. Trí tuệ thần thông quảng đại mênh mông. Đạo nhân sâu nặng, xưa nay vẫn tích tụ sự trong sáng ngàn thu mãi mãi lưu truyền"...
                                                                                                                                     (ST)

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

CHÚC XUÂN

 

CHÚC TẾT NĂM CANH DẦN

Chúc Canh Dần sức như mãnh hổ
Mừng toàn gia hội tụ xum vầy
Xuân như ý mãn tài, mãn lộc
Mới niềm vui tấn tới công danh.
Vạn chữ Phúc, thêm đầy hạnh phúc.
Sự đã khai ‘‘Đại triển hồng đồ”1
Như trước biển  “Nhất phàm phong thuận”2
ý đồng tâm “Vạn sự đại thành”.

         
Bài chúc này viết từ đầu năm Kỷ sửu, có ý sẽ tặng cho mọi người khi sắp đến tết Canh Dần, ý tứ chưa hay, tuy nhiên ở đầu của tám câu đọc dọc xuống sẽ thành câu chúc: “Chúc mừng xuân mới, vạn sự như ý”.

          (1:“Đại triển hồng đồ” - đây là câu thành ngữ chúc mừng theo nghĩa Hán Việt, dịch ra là: Cơ đồ phát triển lớn.
         2: “Nhất phàm phong thuận” – Cũng là thành ngữ chúc mừng, dịch ra là : Thuận buồm xuôi gió.)


CHÚC TẾT NĂM NHÂM THÌN

Nhâm thìn phúc đến cuộn như rồng
Lộc mãn sinh sôi tựa Biển đông
Ông bà hưởng thọ hơn tùng bách
Vạn sự khang ninh, vạn ý đồng.
Hiếu nghĩa dâng trà cháu chúc ông
Thuỷ chung son sắt vợ chúc chồng
Bách hợp muôn nhà xuân xum họp
Ấm lòng ta hưởng cái vui chung.

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

CHUYỆN VỀ NHẬU



RƯỢU BUTAĐUN

          Vào một nhà hàng, sau khi đã gọi món thịt cầy, vị khách yêu cầu chủ quán:
          - Lấy cho tôi chai rượu butađun nhé.
          Chủ quán thưa:
          - Bác thông cảm, nhà cháu không bán rượu tây bác ạ.
          - Thì tôi có yêu cầu rượu tây đâu, thế rượu nhà mình ai nấu?
          Chủ quán:
- Dạ ba cháu nấu ạ.
          - Thế thì cho một chai Batađun cũng được.
          Chủ quán: …?!

LÝ SỰ

Thấy Hũ hay uống rượu, Bình mới khuyên thành thật:
-Ông uống vừa vừa thôi, uống nhiều hỏng hết lục phủ ngũ tạng đấy.
Hũ bảo:
- Ông nói phản khoa học, càng uống càng lành. Này, thế ông có biết cái hũ rượu thuốc với cái bình rượu rắn nhà tôi thế nào không ?
          Bình : Tôi còn lạ gì, nó chẳng mốc xanh lên rồi còn khoe.
           :   Ông biết tại sao nó mốc không ?
Bình: Thì ông để nó khô như sân nó lại chả mốc.
Hũ:  Đấy, cái dạ dày của mình cũng y như  thế, nếu không thường xuyên ngâm trong rượu cũng sẽ mốc như thường, mà đã mốc thì sẽ đau.
Người xưa có câu:
Uống rượu phải uống thật đầy
Chớ uống vơi chén dạ dầy nó đau
Cầm lên phải uống cho mau
Nếu mà uống chậm nó đau dạ dày.
          Ông không thuộc câu ấy à ?
          Bình : Thôi, nói thế thì em xin lạy cụ và nhân đây xin cứ gửi cái lễ viếng cụ trước !
          Hũ: Viếng là viếng thế nào, ông thấy các bài điếu văn đọc lên đều nói các cụ do bệnh trọng không qua khỏi chứ có bài nào bảo các cụ mất do uống nhiều rượu đâu.
Bình: .....?!!!

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2011

“Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ”.

          Mấy ngày nay, trên các trang mạng xã hội, các diễn đàn xôn xao bàn tán về một bức thư của cha mẹ gửi đến những đứa con thân yêu của mình. Làng Dừa xin trích lại bức thư giản dị này nhưng khiến những người làm con phải nhìn nhận lại chính mình.

         “Ngày bố mẹ già đi, con hãy cố gắng kiên nhẫn và hiểu cho bố mẹ. Nếu như bố mẹ ăn uống rớt vung vãi... Nếu như bố mẹ gặp khó khăn ngay cả đến cái ăn cái mặc... Xin con hãy bao dung!

Con hãy nhớ những ngày, giờ mà bố mẹ đã trải qua với con, để dạy cho con bao điều lúc thuở bé.

Nếu như bố mẹ cứ lập đi lập lại hàng trăm lần mãi một chuyện, thì đừng bao giờ cắt đứt lời bố mẹ... mà hãy lắng nghe!

Khi con còn ấu thơ, con hay muốn bố mẹ đọc đi đọc lại mãi một câu truyện hằng đêm cho đến khi con đi vào trong giấc ngủ... và bố mẹ đã làm vì con.

Nếu như bố mẹ không tự tắm rửa được thường xuyên, thì đừng quở trách bố mẹ và đừng nên cho đó là điều xấu hổ.

Con hãy nhớ... lúc con còn nhỏ, bố mẹ đã phải viện cớ bao lần để vỗ về con trước khi tắm.

Khi con thấy sự ít hiểu biết của bố mẹ trong đời sống văn minh hiện đại ngày hôm nay, đừng thất vọng mà hãy để bố mẹ thời gian để tìm hiểu.

Bố mẹ đã dạy dỗ con bao điều... từ cái ăn, cái mặc cho đến bản thân và phải biết đương đầu với bao thử thách trong cuộc sống.

Nếu như bố mẹ có đãng trí hay không nhớ hết những gì con nói... hãy để bố mẹ đôi chút thời gian để suy ngẫm lại và nhỡ như bố mẹ không tài nào nhớ nổi, đừng vì thế mà con bực mình mà tức giận... vì điều quan trọng nhất đối với bố mẹ là được nhìn con, đưọc gần bên con và được nghe con nói, thế thôi!

Nếu như bố mẹ không muốn ăn, đừng ép bố mẹ!... vì bố mẹ biết khi nào bố mẹ đói hay không.

Khi đôi chân của bố mẹ không còn đứng vững như xưa nữa... hãy giúp bố mẹ, nắm lấy tay bố mẹ như thể ngày nào bố mẹ đã tập tềnh con trẻ những bước đi đầu đời.

Và một ngày như một ngày sẽ đến, bố mẹ sẽ nói với con rằng... bố mẹ không muốn sống, bố mẹ muốn từ biệt ra đi.

Con đừng oán giận và buồn khổ... vì con sẽ hiểu và thông cảm cho bố mẹ khi thời gian sẽ tới với con.

Hãy cố hiểu và chấp nhận, đến khi về già, sống mà không còn hữu ích cho xã hội mà chỉ là gánh nặng cho gia đình!... và sống chỉ là vỏn vẹn hai chữ "sinh tồn".

Một ngày con lớn khôn, con sẽ hiểu rằng, với bao sai lầm ai chẳng vướng phải, bố mẹ vẫn bỏ công xây dựng cho con một con đường đi đầy an lành.

Con đừng nên cảm thấy xót xa buồn đau, đừng cho rằng con bất lực trước sự già nua của bố mẹ.

Con chỉ cần hiện diện bên bố mẹ để chia sẻ những gì bố mẹ đang sống và cảm thông cho bố mẹ, như bố mẹ đã làm cho con tự khi lúc con chào đời.

Hãy giúp bố mẹ trong từng bước đi vào chiều...

Hãy giúp bố mẹ trong phút sống còn lại trong yêu thương và nhẫn nại...

Cách duy nhất còn lại mà bố mẹ muốn cảm ơn con là nụ cười và cả tình thương để lại trong con.

Thương con thật nhiều...

Bố mẹ..."

                                             Tác giả: PIERRE ANTOINE (Việt kiều Pháp)