Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

LÀNG DỪA TỨ KỲ: ĐỌC BÀI THƠ CHỮ NHẪN CỦA ĐẠI TƯỚNG

http://www.doisongphapluat.com/cuoc-thi-viet/huyen-thoai-ve-dai-tuong-vo-nguyen-giap-a8878.html

ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG SẼ QUA ĐI

        Một ngày nọ, vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cần thần thân tín và tài giỏi của mình. Vua bèn nói với ông: “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó”.
          Benaiah trả lời: “Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, thưa đức vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?”.
          Nhà vua đáp: “Nó có những sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui”. 
           Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần tài giỏi của mình nếm một chút bẽ bàng.
          Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.
          Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi: “Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

          Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. “Nào, ông bạn của ta – vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”. Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cười.
      Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói: “Nó đây, thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: “Điều đó rồi cũng sẽ qua đi“.
          Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi…
          

Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

NGÔI NHÀ ẤM CÚNG TUỔI XẾ CHIỀU

Quang cảnh ngôi nhà của Ông bà Đoái do các con xây cất

Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh và cán bộ cơ quan mừng Đại thọ Cụ Đoái  tuổi 90

Quang cảnh ngôi nhà vào ban đêm

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

BẤT NGỜ TRƯỚC CÂU TRẢ LỜI CỦA BÀ MÁ ANH HÙNG

Lần ấy, vào những năm cuối thập niên 80, có một Đoàn liên hợp tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ mất tích đến Củ Chi, TP Hồ Chí Minh để tìm kiếm và khai quật, có cả Người Mỹ và cán bộ của ta. Sau nhiều ngày được chính quyền và nhân dân Củ Chi giúp đỡ, họ đã tìm thấy một số hài cốt quân nhân Mỹ.
Tại nơi khai quật hôm đó, có rất nhiều người dân Việt Nam là dân trong ấp đến chứng kiến việc khai quật và đưa hài cốt lên xe ra sân bay. Ở đó có cả các nhà báo của ta và một vài nhà báo nước ngoài.
Trong lúc đứng chờ đợi, có một bà mẹ già tóc bạc, dáng gầy, nhỏ, da nhăn nheo, đang đứng bỏm bẻm nhai trầu. Một số người dân chỉ vào bà má và nói với mấy phóng viên:
-Bà má này là Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng đấy, mẹ có chồng và bốn con là Liệt sĩ đã hi sinh trong kháng chiến chống Mỹ.
Như vớ được vàng, một nhà báo nước ngoài hỏi má:
-Xin chào bà mẹ, chúng tôi rất khâm phục những người như bà, thật hiếm có, hiếm có.
-Cám ơn ông, không hiếm có đâu ông ạ, ở đất Củ Chi này cũng như ở Việt Nam tôi có rất nhiều người như chúng tôi.
Nhà báo lại hỏi: 
-Thưa bà mẹ, tôi hỏi khí không phải, hôm nay bà mẹ thấy người Mỹ ở tận xa xôi đến đây để tìm lại hài cốt quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh đưa về nước, bà thấy thế nào? Xin hỏi chồng và con bà hiện nay đã được nhà nước Việt Nam tìm kiếm và qui tập về cho bà chưa?
Bà má ngừng nhai trầu, bỏ miếng bã trầu cầm ra tay và nói chậm dãi:
- Người mẹ Việt Nam hay Người mẹ Mỹ, khi mất chồng, mất con của mình cũng đều đau xót như nhau, tôi hiểu điều ấy. Tôi vẫn còn hai đứa con đã hi sinh chưa biết nó nằm đâu để mà qui tập. Nhưng tôi nghĩ, thằng giặc Mỹ nó ở tận bên tây nó sang xâm lược nước tôi, nó mới phải sang đem xương cốt về nước nó, chứ con tôi nó hi sinh đê giải phóng Đất nước tôi, cho dù là tìm thấy hay chưa tìm thấy, nó vẫn đàng hoàng nằm trên mảnh đất quê hương, đất nước của mình. Tôi đâu phải bận lòng nhiều về điều đó, chắc rằng các con tôi cũng nghĩ vậy thôi.
Vị nhà báo nước ngoài không hỏi thêm được câu gì nữa. Những người ở đó hôm ấy chứng kiến câu nói này của Bà má Anh hùng đã không kìm được lòng mình vì xúc động. Thật là một suy nghĩ mộc mạc nhưng triết lý vô cùng sâu sắc và Việt Nam được ẩn chứa bấy lâu trong lòng của bà má Anh hùng - một bà má bình dị như bao bà mẹ trên đất nước Việt Nam này.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

MÓN NGON ĐỒNG QUÊ: NỘM CÂY CHUỐI TRỘN TÉP RIU



Nguyên liệu:
          -Tép rong (Riu) 1,5 lạng (Nếu không có tép rong thì dùng tép trắng)
          -Con chuối tây ( Còn gọi là cây non): 1 cây nhỏ
          -Chanh tươi 5 quả
          -Húng tép 1 mớ (Nhất thiết phải húng tép)
          -Rau ngổ 5 đến 7 ngọn
          -Mắm tôm, bột ngọt mỗi thứ 2 thìa con.
          -Ớt tươi 2 quả.
Cách chế biến:
          -Cây chuối thái thật mỏng, rắc một ít muối cho mềm, vò rối và vắt bỏ bớt nước (Không vắt kiệt quá)
          -Tép rang nhạt, khô.
          -Húng tép, rau ngổ, ớt tươi thái nhỏ.
          -Cắt chanh, vắt hòa vào với mắm tôm, bột ngọt, ớt tươi. Sau đó trộn đều với cây chuối đã vắt nước. Kế tiếp trộn tép riu vào. Cuối cùng là trộn đều lá húng tép, rau ngổ.
          Bày lên đĩa, đặt một vài lá ngổ, lát ớt lên trên.
Cảm quan:
          Cây chuối trắng, tép đỏ, rau xanh, ớt đỏ trông đẹp mắt. Húng tép dậy mùi thơm. Đơn giản mà rất thơm ngon.

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

TIẾNG SÁO DIỀU TRONG NẮNG



Bố con ông N ở Làng D, nhiều năm trước, năm nào cũng thả diều. Ông vót diều và khoét sáo nổi tiếng trong vùng. Diều ông lên bổng, đứng chong, chao thưa ; Tiếng sáo diều ông réo rắt thanh bình, hòa âm như một giàn nhạc, thôi thúc lòng người. Những người biết chơi diều thì khỏi nói, đều mê diều sáo của bố con ông, đứng ngắm hàng giờ ; Những người không biết chơi diều ít nhất cũng phải một đôi lần đứng lại, ngước nhìn diều ông, nghiêng tai nghe tiếng sáo.
Ngày ấy cách đây cũng đã nhiều năm. Thời điểm ấy không phải ai cũng có điều kiện chơi diều như ngày nay: Một là không biết vót, hai là không có nhiều thời giờ rảnh rỗi, ba là thời buổi « gạo châu, củi quế » dễ đâu sắm được con diều . Ông P là một trong những người như thế. Thực ra ông cũng thích diều nhưng không có điều kiện. Nhìn thấy những con diều chao nghiêng trên bầu trời ông thấy ngứa mắt khó chịu, nghe tiếng sáo diều réo rắt thì ông kêu inh tai khó ngủ. Ở chốn làng quê thường thường là thế mà.
Một buổi trưa trời nắng tháng năm, diều ông N bì đứt dây, « ngập » xuống vườn ông P. Ông N đuổi theolấy diều, đến cổng thấy ông P đang nằm võng, thấy con chó nằm trong gốc vải sủa ngược ra liền gọi với vào :
-Chú P ơi, chú làm ơn mở cổng, trông chó giúp tôi để tôi vào tôi xin lại con diều nó « ngập » vào vườn nhà chú.
Ông P thủng thẳng đáp :
-Bác cứ vào tự nhiên, buổi trưa, chó nhà tôi nó nằm trong chỗ mát sủa ra chứ nó không chạy rông ra ngoài nắng đâu.
Ông N lấy diều xong cầm thẳng về nhà, ông đau vì câu nói không biết vô tình hay hữu ý của ông P. Người có tuổi thường hay nghĩ rất sâu.
Từ đấy, người ta không thấy ông N thả diều nữa. Có điều, khi rảnh rỗi ông vẫn đẵn tre ngồi vót diều, chặt gỗ gáo khoét sáo cho bọn trẻ trong làng. Tuy ông không thả diều nhưng mọi người vẫn nhận ra những cánh diều và tiếng sáo của ông N trên bầu trời quê hương thanh bình.
Ảnh minh họa