Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

TUỔI THƠ TRÊN LƯNG TRÂU




Từ xa xưa đến nay người làng tôi vẫn là canh nông vi bản, có nghĩa là cấy trồng hạt lúa, củ khoai vẫn là nguồn thu nhập chính. Từ khi còn bé tôi đã nghe một câu mà thầy tôi thường nói: Con trâu là đầu cơ nghiệp con ạ. Tuy nhiên lúc ấy tôi chẳng hiểu gì về chữ đầu cơ nghiệp cho đến tận sau này đã trưởng thành.

Năm lên tám tuổi năm 1972, lúc đó tôi mới học lớp một, tôi đã biết đi chăn trâu (Lớp một lúc đó như lớp hai bây giờ, còn trước khi vào lớp một có một lớp gọi là lớp vỡ lòng, bọn trẻ thì hay gọi là lớp O A). Đầu tiên là chị Tiến dạy tôi dắt trâu (Nhà có sau anh chị em, anh Bình là cả, đến chị Tiến, đến tôi, em Trình, em Trường, đến năm 1974 mới có em Đăng). Chị bảo, trâu nó hay bắt nạt trẻ con lắm, không quen là nó xì, và nó húc ngay, tôi cũng sợ.

Chị giật dưới bờ ruộng (Nay là chỗ cổng nhà ông Trúc, gần cây đa ông Bơn bây giờ) một nắm cỏ gà non, đưa cho tôi cầm và dắt tôi đưa vào tận mũi con trâu, nó ngửi ngửi, phì phì - chắc là có hơi người lạ, rồi cũng ăn ngon lành, chị bảo thế là nó quen hơi em rồi đấy. Từ đấy thỉnh thoảng tôi lại dắt trâu đi chăn thay chị.

          Nhà tôi được hợp tác xã giao đảm nhiệm nuôi một con trâu cái. Nuôi một con trâu được tính điểm mỗi ngày bằng một công (Gọi là công trâu), bằng với công của một lao động. Trâu nhà tôi sừng dài, bẹt, cong đều tròn như cái mâm, hơi cúp một chút (Ngày ấy chúng tôi toàn gọi là ngà trâu). Tôi đếm ở gần phần đầu, mỗi bên có 5 cái rãnh ngang lõm xuống. Càng già thì sừng trâu càng nhiều cái lõm ấy. Nhìn con trâu cũng biết là nó hiền. Nó hiền từ ánh mắt cho tới nết ăn, nết uống, đến cách đánh ruồi. Động tác nào cũng rất chậm rãi. Đôi lúc tôi cứ thấy nó hiền như chị Tiến nhà tôi. Người ta bảo, trâu nhà ai nuôi lâu ngày nó cũng giống người nhà ấy, kể cả về dáng vẻ và tính cách.

          Con trâu nhà tôi chỉ cần nhìn cách hàng cây số cũng phát hiện ra đặc điểm của nó. Hình dáng to, bụng bè bè, nhất là lúc nó có bầu. Bụng to thế nhưng lưng lại bổng, có phần hơi cong lên chứ không võng xuống. Chính vì hình dáng thế nên khi bơi qua sông nó rất nổi, khi chúng tôi sang sông chỉ việc xắn quần, đứng trên lưng trâu là không bao giờ ướt. Tôi cũng là một tay cự phách về “tài” đứng trên mình trâu sang sông. Tuy nhiên vẫn còn thua xa so với Tải, Nhị, Cửu.

Ngày ấy, bạn chăn trâu với tôi rất đông, có Tải, Nhị, Cửu, Hưng (Con ông Chử), Hưng (Con ông Ý), Duyển, Mão, Trình (Con bác Tạn), anh Trọng... Nếu là trâu chơi, buổi sáng ra đồng chúng tôi đều hẹn nhau cùng đi. Ra đến đầu làng là cả bọn bắt đầu phi trâu, cả đàn trâu phi rầm rầm từ đầu làng ra tận ngoài đê dài cả cây số. Người lớn vác cuốc cày ra đồng cứ phải né vào bên cạnh, các bà các chị thế nào cũng chửi: Mấy thằng thổ tả kia. Có bác khi gặp bố mẹ lũ trẻ trâu thường hay bảo: Tôi thấy cái thằng nhà ông bà cứ ra đồng là nó đánh trâu lồng, bảo nó đi không thì có ngày nhặt xương (ý nói là gẫy tay, gẫy chân). Bọn trẻ gọi là phi trâu thì người lớn lại gọi là trâu lồng. Trâu nhà tôi là trâu cái nên khi phi trên bộ thì nó bao giờ cũng chậm nhất trong đàn nên cũng chẳng lo về việc ấy. Vả lại có ngã là ngã mấy thằng tò te cưỡi phải trâu mới lớn thôi, chứ trâu trưởng thành thì không ngã được vì nó chạy rất êm, không tắt ngang, tắt ngửa. Cả đàn trâu chạy như thế, có thằng nào ngã xuống đất cũng không bao giờ trâu giẫm lên người, nó tránh được hết như kiểu tránh các mô đất vậy.

          Cả nhà tôi ai cũng chăm trâu và yêu quí trâu. Bu tôi, chị Tiến đi cắt cỏ, bao giờ cũng chọn cỏ ngon cắt đẫy gánh. Mùa nhiều cỏ không sao, mùa thu, mùa đông hiếm cỏ, Bu tôi hoặc chị Tiến phải sang tận đồng Gang, bãi Tú, bãi Vực xa hàng bảy đến mười cây số cắt cỏ. Có khi còn phải đẽo cả gốc cỏ gừng cho trâu. Bu tôi bảo, nếu chịu khó ngồi đẽo gốc cỏ gừng, trâu ăn còn béo bằng mấy ăn cỏ già. Có lúc chúng tôi vừa thả trâu lại vừa phải cắt cỏ cho vào bao để đem lên mình trâu đưa về nhà phụ giúp với Bu và chị. Con trâu nhà tôi bao giờ cũng béo nhất làng, cứ hai năm nó lại đẻ một con nghé. Mỗi lần hợp tác xã mở hội thi trâu, thể nào trâu nhà tôi cũng đoạt giải. Tôi nhớ một giải chỉ được tặng một cái nón và con trâu được buộc một cái nơ bông hồng vải đỏ vào sừng. Tôi chẳng để ý gì đến cái nón, tôi chỉ thích bông hồng vải.

          Chăn trâu có nghé là rất vất vả, lúc nhỏ thì vừa đi nó vừa rúc vú mẹ để bú nên đi rất chậm, hay bỏ xa đàn. Khi nó đã được bảy tám tháng thì hay nhảy xuống ruộng ăn lúa. Để hạn chế nó, thầy tôi lại phải đan một cái rọ mõm để đeo vào cho nó, đến bãi thả lại phải tháo ra cho nó ăn cỏ và bú mẹ. Khoảng gần một năm, đến lúc sắp giao nghé cho hợp tác xã, Thầy tôi phải xiên mũi cho nghé để có lỗ mũi buộc sẹo. Thầy tôi làm róng gông con nghé lại, rửa sạch mũi nó bằng nước muối và dầu tây, lấy một cái dùi nức rổ nung qua lửa để tiệt trùng rồi xiên qua chỗ mỏng nhất giữa hai lỗ mũi con nghé. Thầy tôi bảo như thế nó không bị đau lắm và sát trùng.

Sau khi xiên, lấy một đoạn cây mây để tròn, cắt ngắn, đập dập hai đầu, thắt nút một đầu trước sau đó xuyên qua lỗ đã dùi. Đầu còn lại thắt một nút nữa cho thật sát ngắn, sau đó cắt chỗ thừa đi. Lấy nước tỏi và muối xát vào chỗ vết thương. Con nghé bị đau bỏ bú mất vài ngày, Thầy tôi để ý, đến khi con nghé bú mẹ thi thầy tôi bảo, hôm nay nó bú rồi. Bu tôi chỉ lo nó bỏ bú lâu nó sẽ gầy đi. Thế nhưng chỗ bị xiên nó liền cũng rất nhanh. Thầy tôi bảo, không phải ai cũng xỏ được mũi nghé, cũng có người vụng, sau khi xỏ nhiễm trùng rất lâu khỏi, lớn lên con trâu bị sứt mũi và điều khiển nó rất dai mũi và ít tuân lệnh chủ. Vậy nên mới có câu “Dai như mũi trâu sứt” là vì thế.

          Khi vết thương ở mũi con nghé lành hẳn cũng là lúc phải làm sẹo, xỏ thừng vào dắt cho quen dần. Đầu tiên xỏ thừng vào rồi mai thừng lên sừng nghé, sừng nó ngắn, bị ruồi bâu đốt là nó hay đánh mốc (tức là tìm mô đất húc sừng vào đánh tung hoăng lên) do vậy rất hay tuột thừng ra, rất hay phải mai lại. Nếu không mai lại là nó lại dẫm vào thừng, vì đầu cái dây thừng có mấu, dắt vào khe chân nó không tuột ra được, mỗi lần bước là một lần mũi nó lại bị kéo dật về sau không bước đi được. Nếu nó giẫm vào sẹo thì thế nào cũng bị tuột mũi, mà tuột mũi nghé thì khổ, bắt được nó xỏ lại là vô cùng gian nan.

          Khi con nghé đã được hơn một năm tuổi là nó phải tập cày, tập bừa. Tập cày cho nghé thì gọi là vực nghé. Khi vực nghé thường chọn một ruộng mạ vừa nhổ, đất rắn vừa phải, chỉ cho kéo bằng cái bắp cày, sau đó mới vực bằng cày thật. Khi vực bằng cày phải chỉnh cày ăn thật nông rồi vực nghé. Nếu cày bâm sâu thì con nghé nó không kéo được. Lúc mai chão vào đòn đam cày, chỉnh cái thừng cổ phải thật vừa để dặt khoẳm đúng cái vai của con nghé (Gọi là vừa khoẳm là thế). Đặt cao quá vào cái xương vai là nó không kéo vì đau. Đặt thấp thì sau này nó ra ba vai, kéo bằng cổ lại yếu hơn. Nghé vực vài ngày, vai sưng đẫn lên, trông tội lắm, người ta phải lấy tỏi, muối đắp lên chỗ vai sưng ấy cho nó chóng lành. Cũng có con khi bắc khoẳm lên là đánh tháo, vì nó đau. Có người thương quá bảo cho nó nghỉ rồi hôm sau lại vực. Mấy bác vực nghé bảo, không được, nếu tha nó thì sau này nó sẽ quen đánh tháo thì không cày được. Vì thế mà đau cũng phải cày, rồi kéo một lúc nó lại quen vai, không đau nữa.

Lần đầu phải có hai người vực, một người dắt đằng trước, một người cầm cày đằng sau, sau vài buổi quen mới vực một người. Người vực nghé thường phải biết nghề, vừa đi vừa xướng lên những câu ca vực nghé:

          Ơ

          Còn nhỏ làm nghé, lớn lên làm trâu

          Bé ăn chơi, lớn phải đi cày

          Nghé ngoan ơi nhớ lấy câu này

          Mắt nhìn thẳng về phía trước,

          Hai chân trước bước lên trước

          Hai chân sau bước tiếp theo sau,

          Vai gắng lên mà kéo cày đi nào.

          Ơ

          Nghe tiếng vắt thì bước chân vào

          Thấy kéo mũi thì bước chân ra .

          Bước đi cho đều, sá cày mới thẳng nghe con.

          Đi cho chắc sá này, mai ngày tốt lúa.

          Ta lấy hạt thóc, mày ăn bó rơm thơm.

          Ơ

          Khi đến đầu bờ, móng chân bấm chặt vào bờ

          Nghe tiếng họ thì đứng lại : Họ, đứng lại nào.

          Ta nhấc cày lên, nghe tiếng vắt thì quay đầu lại

          Vắt vào, quay đầu lại đi nào.

          Nghe tiếng roi quất thì bước chân đi. Đi đi con.

          Cày nhanh sá thì nghỉ sớm, đi chậm thì nghỉ muộn con à.

Ơ

          Cứ như thế, người vực nghé hát vang cả cánh đồng trong cảnh yên bình. Người vực nghé giỏi cũng là người cày giỏi và có kinh nghiệm, tay cầm roi nhưng không bao giờ đánh trâu mà nó vẫn đi. Hình như con nghé cũng hiểu tiếng người và ưa dỗ ngọt. Chúng tôi rất thích xem vực nghé là vì vậy. Xem mãi không biết chán.  

          Đội nhà tôi là đội bốn, ở đội năm hay đội sáu gì đó Thuộc làng Dáu (Thôn Đồng Lộc), do chăn trâu không tốt nên cứ chết rét dần. Để duy trì số lượng trâu và đảm bảo sức kéo, hợp tác xã lại có chủ trương đổi trâu béo lấy trâu gầy. Chú thím Hoàn có họ hàng với nhà tôi chăn trâu vụng để gầy giơ xương, lúc nào cũng đói dính (Tức là như thể da bụng bên này dính sang da bụng bên kia được bọn trẻ trâu chúng tôi gọi là đói dính), thường xuyên bị phạt điểm. Thế là hợp tác đổi trâu nhà tôi cho nhà chú Hoàn, lấy con trâu gầy nhà chú giao cho nhà tôi. Lần ấy tôi buồn vô cùng và hậm hực không bằng lòng với điều bất công ấy. Thế nhưng Bu tôi bảo: Thôi con ạ, trâu gầy yếu về nhà mình chăm lại béo con ạ. Chắc do nể họ hàng nên thầy bu tôi cũng không nỡ thắc mắc gì.

Béo gầy không thành vấn đề, tôi buồn là vì con trâu nó gắn bó như người bạn, đổi cho nhà khác là buồn vô cùng. Tuy thế những ngày mới đổi, cưỡi lên mình con trâu gầy giơ xương ngồi rất đau mông. Do nhớ con trâu cũ nên cứ ra đồng là tôi lại tìm xem con trâu cũ nhà tôi ở cánh đồng nào. Nếu không nhìn thấy cũng bâng khuâng. Chăn trâu lâu ngày, người và trâu cũng có tình cảm, con trâu cũng nhớ chủ cũ. Nếu ở gần mà nhìn thấy chủ cũ, con trâu cũng ngẩng lên kêu “nghé ọ” và chạy đến hít hít vào người, vào tay.

Chả thế mà có lần hợp tác xã thịt con trâu đực nhà bác Đọc, cũng vì tội nó là con trâu nghịch quá, hay đánh nhau lại thỉnh thoảng húc người lạ. Anh Bính lúc đó trạc tuổi với tôi, thấy trâu nhà mình bị quật ngã, kêu rống lên và bị chọc tiết, anh ấy ngồi trên tường bao nhìn xuống đã khóc rất to vì thương trâu, cứ thế anh ấy quệt nước mắt đi về. Quả thực, nghe con trâu nó kêu khi bị kéo đổ, mắt nó cầu cứu, nước mắt giàn ra, thương tâm lắm. Thịt trâu xong thường thì chủ trâu được lấy đôi sừng, nhưng thường cũng chẳng ai lấy. Anh Bính cũng vậy, anh ấy dỗi vì thịt mất trâu nhà anh ấy. Thế là bọn trẻ trâu chúng tôi lại xin, đem về ngâm cho tụt hết lõi đi để làm tù và.

Chăn trâu cái nó hiền, lúc nó không nuôi con thì có phần nhàn hơn chăn trâu đực. Cạnh nhà tôi là nhà Duyển, bạn thân với tôi. Nhà Duyển chăn một con trâu đực mộng, ngày ấy những con trâu đực tốt thường hợp tác để làm giống cho nên mới gọi là đực mộng; cũng như là mộng mạ (Có nơi gọi là mống), còn những con không có dáng dấp hoặc dữ quá thì đều thiến đi cho nó thuần. Con trâu nhà Duyển dáng đúng là lực sĩ, ngực to, chân chắc, cổ vại u lên, sừng củ ấu. Ngửi thấy mùi trâu đực ở đâu là nó giật mũi đi tìm đánh nhau. Trong làng có mấy con trâu đực mộng, hễ cứ gặp nhau là đánh, đó là trâu nhà Duyển, trâu ông Đào, trâu bác Quát, trâu bác Đọc, trâu ông Phận. Những con trâu ngang sức nhau, dù đánh nhau đã thua rồi nhưng lần sau gặp chúng lại đánh, chứ không giống như các loài vật khác, đã thua một lần là lần sau gặp lại, con đã thua rồi là tự bỏ đi. Có lần con trâu nhà Duyển với con trâu bác Quát đánh nhau cả buổi chiều, đánh từ trên bờ, xuống giếng chùa, ra ruộng lúa, nhảy xuống ngòi. Trâu đánh nhau mà cá còn không chịu được phải ngoi lên. Cứ mỗi lần như thế chúng tôi đứng xem mà thích thú, chỉ có người lớn là xót xa vì ruộng lúa bị phá tan tành.

Tuy trâu đực hung hăng thế nhưng con trâu nhà Duyển với người nó lại rất hiền. Khi nó nằm nghỉ mát dưới gốc tre, mồm nhai lại, mắt lim dim, chúng tôi cứ ngồi lên lưng nó lấy mảnh sành cạo, vót sừng cho nó thật nhọn để nó đánh nhau. Con trâu có vẻ khoái điều này nên nó cứ để yên cho chúng tôi cạo sừng.

Tôi nửa ngày đi học, nửa ngày hoặc đánh dậm, nấu cơm, cắt cỏ hoặc chăn trâu. Đấy là tuỳ thuộc vào từng mùa. Nếu mùa trâu chơi (Tức là đã cấy xong cho đến lúc gặt, một năm có hai mùa như thế) thì một buổi đi học, một buổi chăn trâu. Nếu là học chiều thì sáng sớm đã cưỡi trâu đi, khoảng gần trưa thì về ăn cơm rồi đi học. Vì là trâu chơi nên buộc cho nó nghỉ đến 4 giờ chiều mới cần có người phải dắt nó đi ăn đến gần tối. Nếu sáng đi học thì chiều đi chăn. Buổi trưa bọn trẻ trâu chúng tôi quẩy dậm ra đồng, đánh một hai tiếng đã lưng giỏ cá tôm lẫn cua. Về nhà để bà làm rồi chiều dắt trâu đi chăn.

          Trên lưng trâu vắt vẻo, nếu có bất kỳ cuốn truyện hay cuốn sách nào đều đọc cho ngấu nghiến, không sót một chữ nào. Có những cuốn truyện hay đọc đi đọc lại cho đến thuộc. Tôi nhớ nhất những cuốn: Kho tàng truyện cổ tích Việt nam của Nguyễn Đổng Chi, đọc hết cả khảo dị;  “Dưới đám mây màu cánh vạc” của Thu Bồn mượn của chị Hút; “Con đường dẫn tới các vì sao” mượn của anh Bình nhà tôi, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in từng nhà khoa học; “Tiếng gọi nơi hoang giã” nhân cách hóa về một con chó có tên là Bấc. Chuyện ngắn chọn lọc nước ngoài của nhiều tác giả nổi tiếng, có những câu chuyện như “Chiếc lá cuối cùng”, “Đấu bò tót”, “Khúc thịt bò” Rồi sau này đọc tác phẩm “X30 phá lưới”, “Vật lý vui”, “Đội thiếu niên Bát sắt” Nếu không có truyện đọc, chúng tôi lại tình nguyện trông trâu, đuổi trâu cho Ông Nguyện để ông kể chuyện Thạch Sanh, chuyện Tiết Đinh Quý, Tiết Đinh Sơn cho nghe. Cứ thế chả mấy chốc đã hết buổi. Chính những câu chuyện này đã dần cho chúng tôi lối sống, vốn sống và kiến thức sau này.

          Nếu không phải mùa thì bọn trẻ chúng tôi thả trâu rồi đuổi bắt nhau dưới sông cả buổi. Tất cả bọn chúng tôi đều giỏi bơi lặn, hơn kém nhau không đáng là bao. Trong lũ trẻ trâu, bơi giỏi nhất là Tải; Hưng (Mát) và tôi ngang nhau, đến Nhị, Cửu, Duyển, Hưng (Hằng), Mão, Trình (Con bác Tạn) và Hưng (Con ông ý) xếp hạng sau cùng.

          Hàng ngày chúng tôi chơi đuổi bắt dưới sông, luật chơi là rút thăm, ai được cây cỏ ngắn nhất thì phải đuổi, số còn lại bơi lặn trốn. Người đuổi phục trên bờ phóng xuống, vỗ vào được ai thì người ấy lại đổi sang vai đuổi bắt. Có đứa khôn giả vờ nhao xuống cho đối phương lặn, thế rồi đứng chờ trên bờ, khi thấy đứa kia hết hơi ngoi lên, chưa kịp nhìn thì bị nhao trúng người. Có lúc tôi lặn rồi chui vào trong hườm bờ sông, bên ngoài cỏ che kín làm cho người đuổi còn tưởng mình lặn lâu, thậm chí còn tưởng tôi bị chết đuối. Về sau, ai cũng bơi giỏi không bắt được thì đổi sang luật lấy đất bùn ném, trúng người nào người ấy phải đuổi. Cứ như thế có hôm lặn ngụp ba bốn tiếng dưới sông.

Có những đoạn sông sâu hàng mấy cây sào, chúng tôi thi tìm mò những vật mà ném từ trên xuống, ai lấy được lên là thắng. Đầu tiên ném nửa hòn gạch, dần dà chỉ ném hòn gạch bằng quả ổi rồi lặn xuống mò lên. Thế mà không sót hòn nào. Tôi, Tải, Hưng (Mát) là những thằng bạo gan, thường hay thắng nhất. Một số đứa khi nghe chúng tôi dọa:  “Trâm đấy” là chúng không dám lặn xuống tận đáy. Chả là ở khúc sông sâu ấy có chị Trâm và cu Từ nhà ông Tư bị chết đuối. Chị Trâm cũng chỉ vừa mười sáu, mười bảy; cu Từ còn ít tuổi hơn chúng tôi, thương lắm nhưng vẫn đem ra dọa nhau. Chúng tôi còn lấy bùn trát lên thân đê rồi thi nhau trượt từ mặt đê xuống nước cả mấy chục mét. Nếu nước cạn trơ lòng sông thì chúng tôi nằm ngửa trên váng phù sa mát rượi, dùng hai chân đẩy cho người trượt đi giữa lòng sông một cách thích thú. Mùa hè thì lặn xuống tận đáy sông rồi nằm trên nền phù sa mát rượi. Lúc đó chúng tôi có thể nín thở được vài phút chứ không như bây giờ.

Trẻ trâu thì ở đâu cũng nổi tiếng nghịch ngợm. Sau này nghĩ lại thấy không hình dung nổi mình lại làm được những việc như thế. Cống ông Toà và cống ông Chử là nơi để chúng tôi trèo lên phóng tên lửa hoặc khoanh chân làm cối 81 từ trên cao xuống mặt nước, cột nước càng cao càng thích. Có thằng lặn xuống, vừa nhô lên há miệng thở bị một quả “cối 81” ở gần, nước ộc vào miệng ho sặc sụa, vậy nhưng đó là chuyện thường chẳng bao giờ giận nhau. Có những đứa mệt định lên bờ nghỉ sớm mà thằng dưới nước vẫn còn muốn chơi, liền lấy đất bùn ném vào người cho không mặc được quần áo, thế là lại phải chơi tiếp.

Có những hôm mở cống, nước to, chảy rất xiết, chúng tôi còn chơi trò nhảy xuống bên này cống, lặn xuống cho trôi ra bên kia cống quãng đường mấy chục mét thân đê. Có khi sạt vào thành bê tông xước hết người. Đấy là trò mạo hiểm nhất, sau này nghĩ lại thấy mà sợ. Nếu chỉ cần có một cành rào ở giữa cống mà vướng vào thì kể như cuộc đời kết thúc.

Có những hôm nước rất trong (Quê tôi vùng nước lợ mà), chúng tôi lặn xuống cống, mở mắt tìm mò những con cá bò, cá bống trong kẽ đá chân cống. Có lần bị cá bò đánh rách cả tay, mở mắt dưới nước nhiều, lúc lên bờ mắt đứa nào đứa nấy đỏ hoe, nhìn cảnh vật xung quanh đều có màu rất vàng. Thế mà không hề hấn gì, lại còn cảm thấy thích thú với cái màu vàng của cảnh vật xung quanh.

Có lúc lên bờ, gặp ông Tòa, ông lại hỏi: “Đơn vị ta” nay đã về rồi cơ à? Hồ hởi nhỉ. Đã là ông Tòa thì bao giờ cũng sẽ có hai từ thương hiệu của ông, đó là “đơn vị ta” và “hồ hởi” để gắn với các câu nói. Ví dụ: Đơn vị ta nay có khỏe không, ăn uống có được hồ hởi không? Nếu dặn con, ông hay bảo: Đơn vị ta dù đói kém, khó khăn, nhưng cứ phải hồ hởi con ạ.

Trong làng cũng có nhiều người có những câu nói trở thành “thương hiệu” câu cửa miệng. Dân làng thường lấy những đặc điểm ấy để gắn với từng người, như là: Chu chu ông Lợi, hồ hởi ông Tòa. Ông Lợi thì hay có từ chu chu để nói về việc đã đầy đủ, chu đáo. Lời ông Đẩu bảo, hết rớt mùng tơi rồi, là nói về ông Đẩu, hễ nói cái gì hết sạch không còn tí nào thì hay dung từ “hết rớt mùng tơi”. Ông Lừng có câu: Chớ có lừng khừng, đòn gánh vào lưng. Đuổi gà ăn rau thì ông hay bảo “Củ cải, củ cải”, có nghĩa là đe con gà đem xáo củ cải. Ông Bao bảo: “Bụng cứ rốn thôi” để nói về phải kiên định, không đẽo cày giữa đường, cứ ý mình mà làm....

          Vào mùa đông rét mướt, không tắm sông được, chúng tôi nặn mỗi thằng một cái lò đất, chỉ to bằng bàn tay người lớn, đốt củi lấy than hồng sau đó lấy quả phi lao khô cho vào rồi thổi hồng lên và cầm trên tay cho ấm. Có lúc không có quả phi lao khô thì lấy phân trâu khô cũng đốt được. Làm lò đẹp nhất là Cửu, Nhị và Duy. Tôi và Tải thì làm lò to hơn cả, cốt ấm và không nóng tay. Tôi còn nhớ, có lúc Nhị và Cửu thổi lò mạnh quá, quả thông cháy đỏ nóng rực bay ra khỏi lò rơi lên mình trâu, con trâu bị nóng bất ngờ nhảy dựng lên làm người cưỡi ngã văng xuống đất. Thấy bạn không sao, cả bọn lại cười như pháo rang thích thú.

          Có hôm không có trò gì, bọn trẻ chúng tôi chia thành hai nhóm, xếp đất ải giả làm thành quách rồi ném nhau. Tất nhiên là nguy hiểm rồi nhưng không thú vị thì chơi làm gì. Có nhiều hôm còn ném nhau với lũ trẻ chăn trâu Thanh Kỳ (Làng bên kia sông). Các anh lớn tuổi thì phục kích, bọn trẻ nhỏ chúng tôi làm mồi nhử đứng bên này khiêu khích sang bên kia sông. Lũ trẻ trâu Thanh Kỳ bực tức cậy đông nhảy ào xuống sông bơi qua đánh, chúng tôi giả chạy. Khi chúng nó gần đến bờ bên này, các anh lớn nằm dưới cói đứng lên ném đất đá vào đội hình bọn trẻ Thanh Kỳ, lúc đó chúng tôi quay lại hỗ trợ. Bọn trẻ Thanh Kỳ thua chạy, mấy ngày sau đó cũng dùng chiêu nghi binh nhưng không lần nào lừa được chúng tôi. Đánh đấm nhiều lần thế nhưng rất may cả hai bên ít khi nào có thương tích nặng xảy ra. Sau này khi con đê đắp liền lại để phục vụ Trạm bơm Cầu Dừa thì trẻ hai làng không đánh nhau nữa mà còn chơi với nhau.

          Chăn trâu vất vả nhưng cũng có cái thú của chăn trâu. trẻ trâu có rất nhiều trò chơi mà những đứa trẻ khác không bao giờ biết được.

          Đánh khăng là trò chơi thú vị của lũ trẻ trâu. Khăng có thể làm từ nhiều loại gỗ, tre khác nhau, nó bao gồm hai khúc, khúc dài gọi là mẹ, khúc ngắn gọi là con. Những đứa trẻ trâu còn nhỏ có thể làm bằng cây điền thanh to, loại này nhẹ, nhất là lúc khô đi. Khăng bằng cây điền thanh thì dễ đánh, vả lại nếu có văng vào đầu cũng không đau. Trẻ trâu lâu năm thường làm khăng bằng loại tre già, bằng gỗ xoan hoặc gỗ đa già đảm bảo nặng và rắn chắc.

          Luật chơi khá đơn giản, một đám trẻ chia thành hai nhóm đều nhau về trình độ chơi. Cũng có thể có đội nhiều hơn nếu bên ít đồng ý chấp. Có hai người cũng có thể chơi được. Hai bên thống nhất chơi bộ khăng của một đứa trong nhóm. Bộ khăng nào có con con càng ngắn thì càng khó chơi vì vụt khó trúng. Thế nên cần phải thống nhất từ trước, không ép được, nếu ép một bên sẽ bỏ chơi, thế là mất vui.

          Chơi khăng có ba bước: Lồ, mắm và gà. Bên nào đo được nhiều con thì bên ấy thắng. Tính bằng cách mắm ăn mẹ (Đo bằng con mẹ), gà ăn con (Đo bằng con con) Phần thưởng có thể là cõng, nhổ tóc hoặc giết rôm.

Đầu tiên phải đào lồ, cái lồ là một cái lỗ ở chỗ đất cứng dùng để lồ và gà. Đào lồ xong sau đó cắm hướng để đánh khăng, vẽ một đường kẻ ngang ở phía trước gọi là mấc (Chắc đồng nghĩa với từ mức), mấc xa hay gần cũng phải thống nhất, làm xong thì chơi.

Để chọn bên chơi trước phải thi khấc. Khấc là lấy con khăng mẹ tâng con khăng con, khi nào con khăng con rơi xuống đất thì thôi.  Có thể chọn ra hai đứa khấc giỏi nhất để thi với nhau, bên nào khấc được nhiều hơn thì được chơi trước. Bên chơi trước sẽ đánh khăng, bên kia đón.

Đầu tiên là lồ. Đặt con khăng vào ngang miệng lồ, sau đó lấy con mẹ chọc xuống miệng lồ hất con khăng đi phải qua mấc, tất nhiên càng xa càng tốt. Nếu bên lồ mà lồ sai hướng đã cắm hoặc lồ không qua mấc là phạm qui, đứa ấy mất lượt phải ra cho đứa khác trong đội vào chơi. Nếu lồ đúng hướng mà bên đón không bắt được thì coi như qua bước lồ, bước vào mắm. Nếu bên đón bắt được con khăng lồ thì lúc đó bên lồ phải để gác mẹ khăng lên trên miệng lồ bằng hai hòn gạch hoặc hai hòn đất nhỏ. Bên đón sẽ đứng ở mấc nhằm mẹ con khăng và ném. Nếu trúng rơi mẹ con khăng xuống đất thì đứa lồ đó phải ra để đứa khác trong đội vào chơi. Còn nều ném không trúng thì chuyển sang bước mắm. Tuy nhiên việc bắt con khăng cũng phải kỳ là bắt bằng tay chứ không được “ôm em”- Có nghĩa là không tính ôm con khăng rơi vào ngực hoặc vào bụng.

Mắm: Tay thuận cầm mẹ khăng, ngón cái và ngón trỏ cầm con khăng, tung con khăng lên sau đó lấy mẹ khăng vụt mạnh để con khăng đi càng xa càng tốt. Nếu bên đón mà bắt được thì bên đón được đo và tính từ chỗ bắt được đến tận lồ. Đơn vị tính bằng độ dài của con mẹ. Thế mới gọi là mắm ăn mẹ. Đứa bị bắt lại phải ra cho đứa kế tiếp đánh. Ngược lại, nếu không bắt được thì bên mắm được đo và tính cho mình rồi chuyển sang gà. Nhưng nếu kỳ nhau mà ba mắm thì mắm hết ba lần mới thôi. Cơ hội chia đều cho hai bên. Có đứa không biết mắm bằng một tay, khi tung con khăng lên vụt không trúng thì mắm bằng hai tay, mắm kiểu này thì đi rất gần và dễ bị bắt. Còn mắm hụt thì coi như hỏng.

Gà: Đặt con khăng vào lồ, gếch một đầu lên, nếu được phép có thể đặt ra gần đâu đó cạnh lồ cúng được. Lấy mẹ khăng đập vào đầu con khăng cho bật lên cao và vụt mạnh cho con khăng bay đi, nếu vụt trúng mà bên đón không bắt được thì bên đánh được  dùng con khăng đo từ chỗ rơi về đến lồ. Gọi là gà ăn con. Và tiếp tục gà tiếp. Nếu bên đón bắt được thì bên đón được đo, bên gà mất lượt. Nếu vụt không trúng (hụt) thì cũng phải ra. Nhiều đứa đánh mạnh, con khăng làm bằng tre rất hay bị vỡ, vì vậy nhiều khi phải đẽo bằng gỗ mới chịu được. Đánh khăng, gà là khó nhất, rất hay gà hụt.

Lúc đo rất hay xảy ra cãi cọ vì nếu bên được điểm đo thì hay đo láu, ngoáy con khăng sang hai bên để tăng điểm, nếu bên bị dành lấy đo lại hay bỏ quãng, cho nên thế nào cũng ì xèo. ấy thế rồi cũng chấp nhận được, nhưng đôi khi cũng phải đo lại.

Lần lượt hết đội này sẽ tiếp đến đội kia chơi. Khi hai đội chơi hết lượt, tổng kết bên nào nhiều điểm là thắng, bên thua phải cõng, mấy vòng là do kỳ với nhau từ trước, tính theo trăm điểm. Cứ như thế chơi mãi không biết chán.

Ngoài những trò chơi ở trên, trẻ trâu còn có những trò như đánh bi, đánh gụ, đánh đáo, thả diều. Mải chơi mà cho trâu về muộn hoặc quên việc, có đứa về nhà bị bố đánh lằn mông lên, gọi là bị ăn lươn.

Có một trò chơi có thể nói bác học nhất của trẻ chăn trâu chúng tôi, đó là thả diều.

Nói đến chuyện thả Diều của trẻ trâu có thể nói cả ngày không biết chán. Tôi nhớ như in một câu chuyện ở Làng Dáu mà tôi được nghe kể lại thế này (Hình như chú Hoàn nhà tôi kể) :

Ông  N ở Làng Dáu, nhiều năm trước, năm nào cũng thả diều. Ông vót diều và khoét sáo nổi tiếng trong vùng. Diều ông lên bổng, đứng chong, chao thưa ; Tiếng sáo diều ông réo rắt thanh bình, hòa âm như một giàn nhạc, thôi thúc lòng người. Những người biết chơi diều thì khỏi nói, đều mê diều sáo của ông, đứng ngắm hàng giờ ; Những người không biết chơi diều ít nhất cũng phải một đôi lần đứng lại, ngước nhìn con diều ông bay bổng, nghiêng tai nghe tiếng sáo réo rắt. Nhất là cánh trẻ trâu chúng tôi thì mê tít.

Ngày ấy cách đây cũng đã nhiều năm. Thời điểm ấy không phải ai cũng có điều kiện chơi diều như ngày nay: Một là không biết vót, hai là không có nhiều thời giờ rảnh rỗi, ba là thời buổi « gạo châu, củi quế » dễ đâu sắm được con diều . Ông P cũng làng là một trong những người như thế. Thực ra ông cũng thích diều nhưng không có điều kiện để chơi. Nhìn thấy những con diều chao nghiêng trên bầu trời ông thấy ngứa mắt khó chịu, nghe tiếng sáo diều réo rắt thì ông kêu inh tai khó ngủ. Ở chốn làng quê thường thường là thế mà.

Một buổi trưa, trời nắng tháng năm, diều ông N bị đứt dây, « ngập » xuống vườn ông P. Ông N đuổi theo lấy diều, đến cổng thấy ông P đang nằm võng, con chó thì nằm thở trong gốc vải sủa ngược ra, ông N không dám tự ý vào vì sợ chó liền gọi với vào :

-Chú P ơi, chú làm ơn mở cổng, trông chó giúp tôi để tôi vào tôi xin lại con diều nó « ngập » vào vườn nhà chú.

Ông P thủng thẳng đáp :

-Bác cứ vào tự nhiên, buổi trưa, chó nhà tôi nó nằm trong chỗ mát sủa ra chứ nó không chạy rông ra ngoài nắng đâu.

Ông N lấy diều xong cầm thẳng về nhà, ông đau vì câu nói không biết vô tình hay hữu ý của ông P. Thế là nó bảo mình không bằng con chó nhà nó. Người có tuổi thường hay nghĩ rất sâu.

Từ đấy, người ta không thấy ông N thả diều nữa. Có điều, khi rảnh rỗi ông vẫn đẵn tre ngồi vót diều, chặt gỗ gáo khoét sáo cho bọn trẻ trong làng. Tuy ông không thả diều nhưng mọi người vẫn nhận ra những cánh diều và tiếng sáo của ông N trên bầu trời quê hương thanh bình.

Xóm tôi cũng có nhiều người vót diều, khoét sáo rất giỏi như anh Khương, xóm ngoài có anh Huyên, xóm trên có anh Khải, anh Vị.

Bọn trẻ trâu chúng tôi cũng mơ ước có được chiếc diều to nhưng ít dứa nào có, vả lại có làm diều to cũng không có dây để thả, chỉ chạy đâm diều ké của mấy ông anh. Chúng tôi chỉ vót được những cái diều nhỏ chừng một mét trở lại, đeo một sáo hoặc nhỏ hơn thì đeo ve. Lấy dây đay bện làm dây diều. Nếu diều cánh cốc thì chỉ việc tước dây đay nối với nhau không cần bện vì diều cánh cốc kéo nhẹ. Dù là dây diều làm bằng gì thì trước khi thả cũng phải nhúng dây vào nước dể dây dẻo, ít bị đứt.

Các anh lớn làm diều rất cẩn thận, còn đo, cân rất kỹ. Phất diều bằng giấy ta, sau đó quét nhựa củ nâu vào, có người lấy nhựa sung quét vào giấy diều. Mục đích là để diều không bị ướt, không bị bùng lúc trời mưa hoặc ngập xuống nước. Bọn trẻ con chúng tôi vót diều không cần đong đo, gióng tre dài đến đâu thì vót đến đấy, giấy phất diều thì lấy từ vở học sinh. Muốn diều nhẹ, mềm, lên không bị chao thì phải vò giấy ra, không để thủng là được, rồi sau đó phất vào khung. Có nhiều đứa xé nhiều vở quá cũng bị « ăn lươn » thường xuyên mà vẫn không kinh.

Có lần, đang thả diều thì con diều của tôi mất gió rơi xuống nước. Bác Bèo là bố anh Sơn, bạn chăn trâu với tôi đi qua. Con diều đã ở dưới nước ngoài xa, bác còn cầm dây diều của tôi kéo đi mấy tua. Thế là con diều bị bùng. Tôi bực lắm bảo bác : Bác đểu thế.

Thế là bác quay ra bảo tôi là thằng láo, dám bảo bác đểu và sẽ mách thầy tôi. Thực tế tôi có hiểu từ đểu lại nặng thế đâu, chỉ có ý là, bác biết thừa diều ở dưới nước, kéo sẽ bị bùng mà vẫn kéo, đấy là cố tình trêu trẻ con. Sau này bác cũng bảo với bu tôi, vì bác cũng sợ bảo thầy tôi thì tôi sẽ bị « ăn lươn ». Bu tôi báo, con nói với người lớn thì con đừng bảo người ta đểu, chỉ được bảo là sao bác lại làm thế thôi. Tôi cũng thấy hối hận, nhưng trẻ con hồi đó không có khái niệm biết đến từ xin lỗi là gì, cứ để nó tự nhiên trôi qua thế thôi. Nhưng từ đó tôi mới hiểu rõ hơn về từ đểu và ít khi dùng đến nó.

Có lúc tôi vót cả những con diều chỉ dài hơn một gang tay, thả bằng chỉ hoặc dây bao nhưng khi thả cũng lên cao tít, do ảo ảnh nên nhiều người vẫn tưởng đấy là một con diều to.

Thả diều là một thú vui không biết chán của người miền quê. Bây giờ dù lớn tuổi tôi vẫn đi xem đám trẻ thả diều.

Một thời thương lắm người ơi, 
Bát cơm nhớ cả một đời cối xay, 
Giần sàng rã cả cánh tay, 
Quạt mo phì phạch, lắt lay đèn dầu. 
Mồ hôi trắng những áo nâu, 
Ao bèo nước đọng, bắc cầu ra xa. 
Thương con luộc quả  trứng gà, 
Mẹ khen khoai độn, xới bà vực cơm. 
Chị ngồi suốt lại cọng rơm, 
Cha cày chạy vụ, đem cơm đầu bờ. 
Nón tàng che tóc bạc phơ, 
Còng lưng cha vớt lên bờ rạ chiêm. 
Cói, lăn trơ cả chấu liềm, 
Sớm khuya tiếc việc, nhá nhem mặt người. 
Nghỉ hôm có đám chào mời... 
Vu vơ nhắc lại một thời xa xưa.
Bao giờ trở lại tuổi thơ
Cánh diều mang cả giấc mơ ùa về
Cưỡi trâu thổi sáo ven đê
Lưng còng vai mẹ gánh về cỏ non
Con hư bị bố đánh đòn
Mẹ chìa vai đỡ sợ con tím lằn
Thương  con nước mắt mẹ lăn
Bà thương cháu nội mắng thằng bố hư.
Lớn lên cho đến bây giờ
Ngẫm tình cha mẹ ông bà mà thương
Heo may gió cát ven đường
Móc cua đánh dậm bờ mương đói lòng
Đẩy te đãi tép ven sông
Mẹ ra chợ bán vài đồng đong ngô
Anh đi đánh Mỹ thật xa
Ghé vai giúp mẹ việc nhà, trông em
Củ khoai củ sắn cũng thèm
Hạt cơm độn những đỏ vàng ngô khoai.
Thương bà buộc ấm sứt quai
Thương em vá víu cái vai áo sờn
Khi vài con cá thờn bơn
Đỡ bác hàng xóm cô đơn một mình
Bạc đầu thương mái đầu xanh
Mong con đánh giặc bình minh lại về
Thương già mắt trẻ ngô nghê
Câu con công cống xuê xoa nỗi buồn
Ra ao ró chú chuồn chuồn
Nghĩ rằng cắn rốn để còn biết bơi
Đuổi theo vớt đám tơ trời
Vấp dây sấp ngã miệng cười, mắt hoe.
Nhớ thương biết mấy cho vừa, 

Tận trong sâu thẳm tuổi thơ một thời

          Nói đến bọn con trai, không thể thiếu nói đến lũ trẻ con gái. Tuy rằng trẻ trâu con trai là phần nhiều, chỉ họa hoằn mới có con gái chăn trâu khi mà con trai bận việc gì đó. Thường thì họ ít thả trâu và cưỡi trâu, mà họ chỉ dắt trâu là phần nhiều. Đôi khi có chị Luyên, cô Mát, chị Sánh, chị Nhài, chị Viết ... Trò chơi của con gái thường là chơi ô ăn quan, đánh chuyền, đánh chắt, nhảy nụ .... Tôi nhớ không được nhiều lắm, nhưng đánh chuyền thì có que chuyền và hòn chuyền. Que chuyền thường được làm bằng cành tre, có 10 que dài bằng hoặc hơn cái đũa một chút. Hòn chuyền thì nặn bằng đất hoặc quả cam, quả bưởi non. Cách chơi là rải đều que chuyền lên 1 bên chân duỗi thẳng, tung hòn chuyền lên, nhặt que chuyền xong thì bắt hòn chuyền. Bắt từ 1 que đến 10 que, hết 10 que chuyển sang các động tác cầm bó que chuyền chấm, vỗ, quét, xoay ... nhằm rèn sự khéo léo của người con gái. Vừa tung hòn chuyền vừa đọc các câu đồng dao nghe rất hay, mỗi lần tung đọc một từ theo nhịp. Tôi nhớ hình như nó thế này :

          Cái mốt, Cái mai, Con trai, Con hến, Con nhện, Giăng tơ, Quả mơ, Quả mận, Cái cấn

Lên đôi. (Cái cấn là con cá cấn, hay là cá thần cẩn ấy, có nhiều từ mà bây giờ nghe sẽ lạ lắm)

Đôi chúng tôi, Đôi chúng chị, Đôi cái tí, Đôi thằng cu

          Đôi lên ba. (Thực ra ngày xưa dùng từ là đôi con đĩ, đôi thằng cu. Nhưng từ con đĩ không phải từ bậy như cách hiểu bây giờ mà nó đồng nghĩa với từ cái tí)

Ba lá đa, Ba quả bưởi, Ba nải chuối,

Một lên tư

Tư ông sư, Tư bà vãi

Hai lên năm

Năm nong tằm

Năm lên sáu

Sáu củ ấu

Bốn lên bảy

Bảy quả na

Ba lên tám

Tám quả trám

Đôi lên chín

Chín cây cột

Một lên mười



Vơ lấy mười

Mười đập đất

Mười cất tay

Mười xay lúa

Mười thổi kèn

Mười đánh chuyên

Chuyền cầm lấy.

Và còn nhiều thứ lắm, từ chấm, đến quét, đến xoay ... phải các chị phụ nữ đánh chuyền nhiều mới nhớ hết được. Nhiều người bảo mình đánh giỏi lắm, ấy vậy mà bảo nhắc lại thì hóa ra đã quên từ bao giờ rồi. Bọn con trai chúng tôi nghe nhiều mà thuộc mang máng, thế là đã giỏi lắm rồi.

Đến năm 18 tuổi, học xong cấp ba, tôi thi vào « Đại học quân sự ». Lúc đó « tuổi chăn trâu » của tôi đã được hơn 10 năm. Nghe người ta nói, trẻ con mà chăn trâu được 12 năm trở lên có thể trở thành Thần đồng, có thể hô được gió, gọi được mưa và bắt dòng sông chảy ngược lại được. Tôi cũng tin điều ấy, kể cả cách nói theo nghĩa đen và nghĩa bóng.

Cứ như thế và tôi đã lớn lên trên lưng trâu, làng xóm, quê hương, cánh đồng, bạn bè, anh em, cảnh vật, trò chơi và hồn quê đã cho tôi cả dáng vóc và tâm hồn, trở thành tôi của hôm nay.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2017

CÁI MỚI TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII VỀ XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG



          Dư luận chung trong Đảng và trong nhân dân vui mừng đón nhận Nghị quyết TƯ4 Khóa XII của Đảng ta “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, mong muốn tìm thấy trong nghị quyết mới này nhiều cái mới, cả những lời giải thuyết phục cho những điều bức xúc.
Để tránh sự trùng lặp, nghị quyết chồng lên nghị quyết, Trung ương từng có chủ trương: Không ra nghị quyết mới khi không có vấn đề mới, nội dung mới, tư tưởng chỉ đạo mới và biện pháp mới.
Nghị quyết Trung ương 4 lần này là nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng đầu tiên mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành.
Vậy cái mới của Nghị quyết này là gì?
Cái mới trước hết thể hiện ở chủ đề của Nghị quyết.
Đại hội XII của Đảng quyết định: “Trong những năm tới, yêu cầu, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ phát triển mới đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI”.
Đại hội XII cũng quyết định: Trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong nhiệm kỳ Đại hội XII (2016 - 2020), nhiệm vụ trọng tâm số 1 là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.
Với chủ đề (hay tiêu đề) nêu trên, Nghị quyết Trung ương 4 lần này không những thể hiện một cách nghiêm túc mà còn rất sáng tạo, có tính cập nhật cao đối với hai trọng tâm mà Đại hội XII đã chỉ ra.
Cái mới thể hiện một cách tập trung trong những nội dung cốt lõi của Nghị quyết.
 Phát biểu ý kiến bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: Cái mới của lần này là Trung ương đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Đúng là như vậy. Nghị quyết Trung ương đã nêu lên 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Và chỉ rõ rằng: Trong các biểu hiện đó, nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm của Đảng; thậm chí sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao, không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.
Sự suy thoái về đạo đức, lối sống còn thể hiện ở chỗ sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, tham quyền lực, bè phái cục bộ, mất đoàn kết, tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn bức xúc của dân.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".
Nghị quyết Trung ương 4 đã đưa lại cho chúng ta một sự nhận diện khá đầy đủ, sắc nét về thực trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng ta là: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật. Nhận diện đúng là để qua đó mỗi cá nhân và tổ chức trong Đảng có thể tự soi mình. Có ai nghĩ rằng, lười học tập cũng là biểu hiện của sự suy thoái? Thế mà, trong 18 biểu hiện suy thoái được liệt kê, biểu hiện thứ ba ghi rõ: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”.
Nhận diện đúng là để suy ngẫm và hành động. Không phải để bi quan hay nhụt chí, mà là để sẵn sàng cho một cuộc chiến đấu mới rất quyết liệt trong thời gian tới, vì sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
Cái mới còn được thể hiện trong việc xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp với những điểm nhấn quan trọng.
Bốn nhóm nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 nêu lên là: về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.
Mỗi nhóm nhiệm vụ giải pháp ấy đều có những điểm nhấn quan trọng.
Đó là: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; ngăn ngừa, cảnh báo, phê phán những việc làm sai trái. Đấu tranh mạnh mẽ chống chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, vụ lợi, lợi ích nhóm.
Là rà soát, hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, bảo đảm quyền hạn đến đâu thì trách nhiệm đến đó. Xử lý nghiêm những hành vi vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Là thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; công tác cán bộ, công tác kiểm tra; công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên.
Là phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội, của nhân dân, của báo chí, của công luận; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”…
Có những việc rất cấp bách, không thể trì hoãn mà đòi hỏi phải làm ngay.
Thí dụ như: “Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay  đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận”. Hoặc: “Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”.
Hệ thống các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cho thấy quyết tâm cao của Trung ương, người vừa là tác giả của Nghị quyết, vừa là chủ thể thực hiện và lãnh đạo thực hiện nghị quyết.
Đó là ba cái mới mang tính khái quát, cốt lõi trong Nghị quyết TW4 lần này.
Điều mong muốn của tất cả chúng ta, trong Đảng cũng như trong nhân dân là Nghị quyết Trung ương 4 sớm được đưa vào cuộc sống một cách toàn diện, đồng bộ, đương nhiên là có trọng tâm trọng điểm.
Ai cũng biết: Một việc làm có ích, một đóng góp thiết thực có giá trị hơn nhiều so với những lời nói khoa trương. Một tấm gương sống hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền!
“Muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt thì cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn”.
Đó là lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, một lời chỉ dẫn sâu sắc, cũng là sự cam kết nghiêm trang của người đứng đầu Đảng ta.

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

CÁCH RANG, SỬ DỤNG CON SÁ SÙNG KHÔ



Sá sùng thuộc ngành giun đốt chỉ sống ở những bãi cát ven biển nơi thủy triều lên, xuống tạo ra những doi cát. Chúng có hình dạng na ná như một con giun khổng lồ đầy màu sắc, hoặc trong những hang đá, khe cát ở tận dưới đáy biển sâu từ 10 đến 30 m. Khi còn tươi, sá sùng có độ dài khoảng 10 đến 15 cm, cá biệt có con dài đến 15–40 cm,  Da thay đổi màu sắc tùy theo môi trường nó ở, dùng tay sờ vào thấy mềm và mát. Ruột sá sùng giống như ruột giun, chỉ một đường ống từ đầu đến cuối, không có tim, gan, phổi.
Tại Việt Nam, tùy theo mỗi vùng, tên dân gian của loài động vật này mỗi khác như sa sùng, sâu đất, đồn đột, chặt khoai, giun biển, đặc biệt người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh thường gọi là "mồi". Ở Quảng Ninh sá sùng có ở nhiều nơi nhưng ngon nhất ở vùng Cô Tô, Vân Đồn, Móng Cái. Chữ sá theo hán việt là sa, tức là cát; chữ sùng là trùng, tức là giun, sâu.
Có hai loại khác nhau: Loại lớn, dài gọi là con sá sùng; loại nhỏ ngắn được gọi là con bông thùa. hai loại này khác nhau đấy nhé. Giống như con tôm khác với con tép vậy.
Bông thùa thường để xào với tỏi tươi, su hào. Sá sùng cũng có thể dùng tươi, nhưng chủ yếu là phơi, sấy khô rồi mới dùng. Khi rang con sá sùng không đúng cách thường bị sạn do cát vẫn còn vương lại ở phần đầu của nó.
Cách rang con sá sùng khô như sau:
Bỏ ½ kg muối hạt váo chảo, rang đến khi nào muối nổ hết chuyển sang màu trắng (Như ta vẫn rang muối vừng) thì bỏ sá sùng khô vào rang cùng muối.
Mục đích, thứ nhất là để muối sẽ giữ hết những hạt cát ở trong sá sùng, lúc ăn sẽ không sạn. Thứ hai là sái sùng sẽ chín đều hơn.

Sá sùng khô
         Đảo đều, đến khi thấy sá sùng hơi chuyển màu vàng là được. Nếu quá vàng coi như đã bị khô quá.
Khi đã được, đổ muối và sá sùng ra cho nguội rồi đổ vào rổ lắc để tách muối ra (Nếu đổ ngay vào rổ nhựa sẽ bị queo nhựa vì nóng).
Nếu muốn bóng và ngậy thì cho một ít mỡ vào chảo rồi đảo đều lên. Sau đó là dùng được.
Sá sùng rang có thể dùng nhắm rượu, bia hoặc bỏ vào lọ, thỉnh thoảng bỏ một vài chục con vào nấu canh, phở, miến sẽ rất ngọt và thơm.

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

TIẾNG ANH LỤC BÁT


TIẾNG ANH LỤC BÁT

Hello có nghĩa xin chào
Goodbye tạm biệt, thì thào Wishper
Lie nằm, Sleep ngủ, Dream mơ
Thấy cô gái đẹp See girl beautiful
I want tôi muốn, kiss hôn
Lip môi, Eyes mắt ... sướng rồi ... oh yeah!
Long dài, short ngắn, tall cao
Here đây, there đó, which nào, where đâu
Sentence có nghĩa là câu
Lesson bài học, rainbow cầu vồng
Husband là đức ông chồng
Daddy cha bố, please don't xin đừng
Darling tiếng gọi em cưng
Merry vui thích, cái sừng là horn
Rách rồi xài đỡ chữ torn
To sing là hát, a song một bài
Nói sai sự thật to lie
Go đi, come đến, một vài là some
Đứng stand, look ngó, lie nằm
Five năm, four bốn, hold cầm, play chơi
One life là một cuộc đời
Happy sung sướng, laugh cười, cry kêu
Lover tạm dịch ngừơi yêu
Charming duyên dáng, mỹ miều graceful
Mặt trăng là chữ the moon
World là thế giới, sớm soon, lake hồ
Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe
Đêm night, dark tối, khổng lồ giant
Fund vui, die chết, near gần
Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn
Burry có nghĩa là chôn
Our souls tạm dịch linh hồn chúng ta
Xe hơi du lịch là car
Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam
Thousand là đúng...mười trăm
Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ
Wait there đứng đó đợi chờ
Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu
Trừ ra except, deep sâu
Daughter con gái, bridge cầu, pond ao
Enter tạm dịch đi vào
Thêm for tham dự lẽ nào lại sai
Shoulder cứ dịch là vai
Writer văn sĩ, cái đài radio
A bowl là một cái tô
Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô
Máy khâu dùng tạm chữ sew
Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm
Shelter tạm dịch là hầm
Chữ shout là hét, nói thầm whisper
What time là hỏi mấy giờ
Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim
Gặp ông ta dịch see him
Swim bơi, wade lội, drown chìm chết trôi
Mountain là núi, hill đồi
Valley thung lũng, cây sồi oak tree
Tiền xin đóng học school fee
Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm
To steal tạm dịch cầm nhầm
Tẩy chay boycott, gia cầm poultry
Cattle gia súc, ong bee
Something to eat chút gì để ăn
Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng
Exam thi cử, cái bằng licence...
Lovely có nghĩa dễ thương
Pretty xinh đẹp thường thường so so
Lotto là chơi lô tô
Nấu ăn là cook , wash clothes giặt đồ
Push thì có nghĩa đẩy, xô
Marriage đám cưới, single độc thân
Foot thì có nghĩa bàn chân
Far là xa cách còn gần là near
Spoon có nghĩa cái thìa
Toán trừ subtract, toán chia divide
Dream thì có nghĩa giấc mơ
Month thì là tháng , thời giờ là time
Job thì có nghĩa việc làm
Lady phái nữ, phái nam gentleman
Close friend có nghĩa bạn thân
Leaf là chiếc lá, còn sun mặt trời
Fall down có nghĩa là rơi
Welcome chào đón, mời là invite
Short là ngắn, long là dài
Mũ thì là hat, chiếc hài là shoe
Autumn có nghĩa mùa thu
Summer mùa hạ , cái tù là jail
Duck là vịt , pig là heo
Rich là giàu có , còn nghèo là poor
Crab thì có nghĩa con cua
Church nhà thờ đó , còn chùa temple
Aunt có nghĩa dì , cô
Chair là cái ghế, cái hồ là pool
Late là muộn , sớm là soon
Hospital bệnh viện , school là trường
Dew thì có nghĩa là sương
Happy vui vẻ, chán chường weary
Exam có nghĩa kỳ thi
Nervous nhút nhát, mommy mẹ hiền.
Region có nghĩa là miền,
Interupted gián đoạn còn liền next to.
Coins dùng chỉ những đồng xu,
Còn đồng tiền giấy paper money.
Here chỉ dùng để chỉ tại đây,
A moment một lát còn ngay ringht now,
Brothers-in-law đồng hao.
Farm-work đòng áng, đồng bào Fellow-countryman
Narrow- minded chỉ sự nhỏ nhen,
Open-hended hào phóng còn hèn là mean.
Vẫn còn dùng chữ still,
Kỹ năng là chữ skill khó gì!
Gold là vàng, graphite than chì.
Munia tên gọi chim ri
Kestrel chim cắt có gì khó đâu.
Migrant kite là chú diều hâu
Warbler chim chích, hải âu petrel
Stupid có nghĩa là khờ,
Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều.
How many có nghĩa bao nhiêu.
Too much nhiều quá , a few một vài
Right là đúng , wrong là sai
Chess là cờ tướng , đánh bài playing card
Flower có nghĩa là hoa
Hair là mái tóc, da là skin
Buổi sáng thì là morning
King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng
Wander có nghĩa lang thang
Màu đỏ là red, màu vàng yellow
Yes là đúng, không là no
Fast là nhanh chóng, slow chậm rì
Sleep là ngủ, go là đi
Weakly ốm yếu healthy mạnh lành
White là trắng, green là xanh
Hard là chăm chỉ , học hành study
Ngọt là sweet, kẹo candy
Butterfly là bướm, bee là con ong
River có nghĩa dòng sông
Wait for có nghĩa ngóng trông đợi chờ
Dirty có nghĩa là dơ
Bánh mì bread, còn bơ butter
Bác sĩ thì là doctor
Y tá là nurse, teacher giáo viên
Mad dùng chỉ những kẻ điên,
Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa.
A song chỉ một bài ca.
Ngôi sao dùng chữ star, có liền!
Firstly có nghĩa trước tiên
Silver là bạc , còn tiền money
Biscuit thì là bánh quy
Can là có thể, please vui lòng
Winter có nghĩa mùa đông
Iron là sắt còn đồng copper
Kẻ giết người là killer
Cảnh sát police , lawyer luật sư
Emigrate là di cư
Bưu điện post office, thư từ là mail
Follow có nghĩa đi theo
Shopping mua sắm còn sale bán hàng
Space có nghĩa không gian
Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand
Stupid có nghĩa ngu đần
Thông minh smart, equation phương trình
Television là truyền hình
Băng ghi âm là tape, chương trình program
Hear là nghe watch là xem
Electric là điện còn lamp bóng đèn
Praise có nghĩa ngợi khen
Crowd đông đúc, lấn chen hustle
Capital là thủ đô
City thành phố , local địa phương
Country có nghĩa quê hương
Field là đồng ruộng còn vườn garden
Chốc lát là chữ moment
Fish là con cá , chicken gà tơ
Naive có nghĩa ngây thơ
Poet thi sĩ , great writer văn hào
Tall thì có nghĩa là cao
Short là thấp ngắn, còn chào hello
Uncle là bác, elders cô
Shy mắc cỡ, coarse là thô.
Come on có nghĩa mời vô,
Go away đuổi cút, còn vồ pounce.
Poem có nghĩa là thơ,
Strong khoẻ mạnh, mệt phờ dog- tiered.
Bầu trời thường gọi sky,
Life là sự sống còn die lìa đời
Shed tears có nghĩa lệ rơi
Fully là đủ, nửa vời by halves
Ở lại dùng chữ stay,
Bỏ đi là leave còn nằm là lie.
Tomorrow có nghĩa ngày mai
Hoa sen lotus, hoa lài jasmine
Madman có nghĩa người điên
Private có nghĩa là riêng của mình
Cảm giác là chữ feeling
Camera máy ảnh hình là photo
Động vật là animal
Big là to lớn , little nhỏ nhoi
Elephant là con voi
Goby cá bống, cá mòi sardine
Mỏng mảnh thì là chữ thin
Cổ là chữ neck, còn chin cái cằm
Visit có nghĩa viếng thăm
Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi
Mouse con chuột , bat con dơi
Separate có nghĩa tách rời , chia ra
Gift thì có nghĩa món quà
Guest thì là khách chủ nhà house owner
Bệnh ung thư là cancer
Lối ra exit , enter đi vào
Up lên còn xuống là down
Beside bên cạnh , about khoảng chừng
Stop có nghĩa là ngừng
Ocean là biển , rừng là jungle
Silly là kẻ dại khờ,
Khôn ngoan smart, đù đờ luggish
Hôn là kiss, kiss thật lâu
Cửa sổ là chữ window
Special đặc biệt normal thường thôi
Lazy... làm biếng quá rồi
Ngồi mà viết tiếp một hồi die soon
Hứng thì cứ việc go on,
Còn không stop ta còn nghỉ ngơi!
Cằm CHIN có BEARD là râu
RAZOR dao cạo, HEAD đầu, da SKIN
THOUSAND thì gọi là nghìn
BILLION là tỷ, LOOK nhìn , rồi THEN
LOVE MONEY quý đồng tiền
Đầu tư INVEST, có quyền RIGHTFUL
WINDY RAIN STORM bão bùng
MID NIGHT bán dạ, anh hùng HERO
COME ON xin cứ nhào vô
NO FEAR hổng sợ, các cô LADIES
Con cò STORKE, FLY bay
Mây CLOUD, AT ở, BLUE SKY xanh trời
OH! MY GOD...! Ối! Trời ơi
MIND YOU. Lưu ý WORD lời nói say
HERE AND THERE, đó cùng đây
TRAVEL du lịch, FULL đầy, SMART khôn
Cô đơn ta dịch ALONE
Anh văn ENGLISH , nổi buồn SORROW
Muốn yêu là WANT TO LOVE
OLDMAN ông lão, bắt đầu BEGIN
EAT ăn, LEARN học, LOOK nhìn
EASY TO FORGET dễ quên
BECAUSE là bỡi ... cho nên , DUMP đần
VIETNAMESE , người nước Nam
NEED TO KNOW... biết nó cần lắm thay
SINCE từ, BEFORE trước, NOW nay
Đèn LAMP, sách BOOK, đêm NIGHT, SIT ngồi
SORRY thương xót, ME tôi
PLEASE DON'T LAUGH đừng cười, làm ơn
FAR Xa, NEAR gọi là gần
WEDDING lễ cưới, DIAMOND kim cương
SO CUTE là quá dễ thương
SHOPPING mua sắm, có sương FOGGY
SKINNY ốm nhách, FAT: phì
FIGHTING: chiến đấu, quá lỳ STUBBORN
COTTON ta dịch bông gòn
A WELL là giếng, đường mòn là TRAIL
POEM có nghĩa làm thơ,
POET Thi Sĩ nên mơ mộng nhiều.
ONEWAY nghĩa nó một chiều,
THE FIELD đồng ruộng, con diều là KITE.
Của tôi có nghĩa là MINE,
TO BITE là cắn, TO FIND kiếm tìm
TO CARVE xắt mỏng, HEART tim,
DRIER máy sấy, đắm chìm TO SINK.
FEELING cảm giác, nghĩ THINK
PRINT có nghĩa là in, DARK mờ
LETTER có nghĩa lá thơ,
TO LIVE là sống, đơn sơ SIMPLE.
CLOCK là cái đồng hồ,
CROWN vương niệm, mã mồ GRAVE.
KING vua, nói nhảm TO RAVE,
BRAVE can đảm, TO PAVE lát đường.
SCHOOL nghĩa nó là trường,
LOLLY là kẹo, còn đường SUGAR.
Station trạm GARE nhà ga
FISH SAUCE nước mắm, TOMATO là cà chua
EVEN huề, WIN thắng, LOSE thua
TURTLE là một con rùa
SHARK là cá mập, CRAB cua, CLAW càng
COMPLETE là được hoàn toàn
FISHING câu cá, DRILL khoan, PUNCTURE dùi
LEPER là một người cùi
CLINIC phòng mạch, sần sùi LUMPY
IN DANGER bị lâm nguy
Giải phẩu nhỏ là SURGERY đúng rồi
NO MORE ta dịch là thôi
AGAIN làm nữa, bồi hồi FRETTY
Phô mai ta dịch là CHEESE
CAKE là bánh ngọt, còn mì NOODLE
ORANGE cam, táo APPLE
JACK-FRUIT trái mít, VEGETABLE là rau
CUSTARD-APPLE mãng cầu
PRUNE là trái táo tàu, SOUND âm
LOVELY có nghĩa dễ thương
PRETTY xinh đẹp, thường thường SO SO
LOTTO là chơi lô tô
Nấu ăn là COOK , WASH CLOTHES giặt đồ
PUSH thì có nghĩa đẩy, xô
MARRIAGE đám cưới, SINGLE độc thân
FOOT thì có nghĩa bàn chân
FAR là xa cách, còn gần là NEAR
SPOON có nghĩa cái thìa
Toán trừ SUBTRACT, toán chia DIVIDE
PLOUGH tức là đi cày
WEEK tuần MONTH tháng, WHAT TIME mấy giờ.

DIỄN VĂN CHÀO MỪNG THÀNH CÔNG ĐẠI HỘI XII ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Mít tinh chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XII của Đảng
 (Tổ chức vào hồi 15giờ 00 phút ngày  28 tháng 02  năm 2016
Tại Trường Quân sự tỉnh Quảng Ninh)
- Kính thưa: Các đồng chí Đại biểu.
-Kính thưa: Các đồng chí trong Đảng ủy, Chỉ huy.
- Thưa toàn thể các đồng chí!
Hôm nay, trong không khí tưng bừng, phấn khởi chào mừng tiến tới kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đón chào xuân mới Bính Thân 2016, cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, Đảng uỷ - Bộ CHQS tỉnh long trọng tổ chức Lễ mít tinh chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước, nhân dân và của dân tộc Việt Nam.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng diễn ra từ ngày 20/01 đến ngày 28/01/2016 tại Thủ đô Hà Nội. Đại hội tiến hành vào thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu và nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Trải qua 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 5 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, 2 năm thực hiện Hiến pháp năm 2013. Đúng 9h02 phút hôm nay, 28//01/2016, Đại hội đã bế mạc và thành công rực rỡ.
Trong thời khắc trọng thể này, với lòng biết ơn vô hạn, chúng ta thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người chiến sĩ cộng sản quốc tế mẫu mực, Người bạn thân thiết của các dân tộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới. Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông đất nước ta, tư tưởng của Người, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Thưa các đồng chí,
Từ ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải quan 11 kỳ đại hội, đó là những mốc son chói lọi đánh dấu sự trưởng thành và phát triển không ngừng của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Đại hội XII của Đảng có ý nghĩa rất trọng đại, định hướng, cổ vũ và động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta "Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại".
Đại hội XII của Đảng là Đại hội "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới", thể hiện bản lĩnh, ý chí kiên cường và quyết tâm đi tới của cả dân tộc vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tham dự Đại hội XII có 1.510 đại biểu đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên; trong đó đại biểu đương nhiên 197 đồng chí là Uỷ viên Trung ương Đảng chính thức và dự khuyết khoá XI; đại biểu được bầu tại các đại hội Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 1.300 và đại biểu chỉ định là 13.
Sau 9 ngày làm việc nghiêm túc, khẩn trương, dân chủ, với ý thức trách nhiệm cao trước Đảng và nhân dân, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra và thành công rực rỡ.
Đại hội đã thảo luận sôi nổi, dân chủ và nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta.
Thưa các đồng chí!
Các văn kiện được thông qua tại Đại hội lần này là sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, nhìn lại 30 năm đổi mới, rút ra những bài học; xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong 5 năm tới. Đại hội XII cũng đã kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; đánh giá việc thi hành Điều lệ Đảng khóa XI. Đại hội thể hiện sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta; là sự tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển quan điểm, đường lối của Đảng ta theo tư tưởng đổi mới; xác định mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới đầy triển vọng và không ít thách thức của cách mạng nước ta từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm sắt đá của Đảng ta, trong những năm tới, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong giai đoạn CM mới.
Đại hội đã thảo luận và thông qua những quyết sách trên tất cả các lĩnh vực cơ bản và trọng yếu của sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm tới. Những quyết sách trên giữ vai trò vô cùng quan trọng, có giá trị định hướng và chỉ đạo sâu sắc trong toàn bộ quá trình triển khai và tổ chức thực hiện trong thực tiễn phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước 5 năm, 10 năm và 20 năm tới.
Đại hội đã tập trung thảo luận và thông qua những nhiệm vụ to lớn nhằm tiếp tục chỉnh đốn, xây dựng và tự đổi mới Đảng với mục tiêu nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, phẩm chất và đạo đức cách mạng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đại hội nhấn mạnh đến sự đoàn kết, thống nhất ý chí của toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh và đường lối, quan điểm của Đảng, đến sự gắn bó mật thiết với giai cấp, với nhân dân lao động và dân tộc như là một phẩm chất cốt lõi nhất thể hiện bản chất và sức sống của Đảng. Để đảm bảo sự trong sạch và vững mạnh cũng như uy tín, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, Đại hội nhận thức sâu sắc và thể hiện quyết tâm đẩy mạnh và có những giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng và chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Đại hội đặc biệt coi trọng và nhấn mạnh trong các buổi thảo luận, trong các văn kiện nhiệm vụ to lớn cần kiên trì chỉ đạo việc thực thi và phát huy dân chủ trong Đảng, trong hệ thống chính trị và trong toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng được tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh : "Quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân". Đại hội khẳng định rằng, trong những năm tới, nhiệm vụ xây dựng Đảng là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, để Đảng thực sự xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Thưa các đồng chí!
Đại hội XII của Đảng đã tiến hành nghiêm túc, đúng Điều lệ Đảng, sáng suốt lựa chọn và bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết;
Ban chấp hành Trung ương khóa XII họp Hội nghị lần thứ nhất tại Trụ sở Trung ương Đảng đã bầu Bộ Chính trị, Tổng bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu và tái đắc cử làm Tổng Bí thư Ban CHTW Đảng. Đây là những đồng chí tiêu biểu trong hơn 4,5 triệu đảng viên của Đảng, có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực lãnh đạo, bản lĩnh và trí tuệ để gánh vác những trọng trách nặng nề do Đảng và nhân dân giao phó; đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Đại hội trao cho Ban Chấp hành Trung ương khoá mới trọng trách nặng nề trước Đảng, trước nhân dân, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII. Nhận rõ trách nhiệm to lớn đó trong giai đoạn mới với những thời cơ lớn và thách thức gay gắt, toàn tâm toàn ý phụng sự đất nước và dân tộc, phục vụ nhân dân, không ngừng nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh, phẩm chất đạo đức, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ to lớn đã được Đại hội xác định.
Thưa các đồng chí,
Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tạo nên sức mạnh cổ vũ to lớn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt lên mọi khó khăn, thách thức, tranh thủ cơ hội mới, phấn đấu vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đại hội XII của Đảng được các đảng cộng sản và các tổ chức công nhân Quốc tế gửi điện chúc mừng, thành công của Đại hội được bè bạn và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đánh giá cao, có tiếng vang lớn trên trường quốc tế.
Trong thời gian diễn ra Đại hội, cán bộ chiến sĩ trong toàn quân nói chung và LLVT tỉnh Quảng ninh đã ra sức thi đua mừng Đảng, mừng xuân dành được rất nhiều thành tích và chiến công trên các lĩnh vực SSCĐ, TKCN, rà phá bom mìn, trong huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nề nếp chính qui và xây dựng môi trường văn hóa, nếp sống văn minh; đã xuất hiện nhiều tập thể cá nhân tiêu biểu, xuất sắc. Đây chính là những đóa hoa tươi thắm dâng lên thành công của Đại hội.
Với niềm tự hào về Đảng Quang vinh, với niềm tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh, ý chí của toàn Đảng, toàn dân tộc, vào tương lai của đất nước, vào sự giàu mạnh của mảnh đất Quảng ninh anh hùng, thay mặt Đảng ủy Quân sự tỉnh và Thủ trưởng Bộ CHQS tỉnh, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ LLVT tỉnh phát huy truyền thống đơn vị hai lần anh hùng LLVT, nguyện suốt đời tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì CNXH. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng bộ và LLVT về kết quả Đại hội, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết, các văn kiện Đại hội,; xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hành động, từng bước đưa Nghị quyết vào cuộc sống; đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng gắn với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, góp phần xây dựng Đảng bộ TSVM, cơ quan, đơn vị VMTD. Tham mưu có hiệu quả cho cấp ủy, chính quyền xây dựng KVPT ngày càng vững chắc, tổ chức thực hiện xuất sắc các nhiệm vụ, cùng với cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển đảo vùng Đông Bắc thiêng liêng của Tổ quốc..
Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm !
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm !
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta !
Xin trân trọng cảm ơn.