Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

TAN TÌNH ĐỜI


Ảnh minh họa

          Tôi có một anh bạn thân, làm ở một sở của tỉnh. Chị vợ cũng có tính hay bóng gió xem vụng điện thoại của chồng. Cũng là yêu chồng quá một tí thôi.
Một hôm, chồng đang tắm, chị lại mò xem điện thoại chồng có tin gì mới không. Bật lên thấy một cuộc gọi nhỡ, nhấn chi tiết thấy danh bạ ghi TAN TINH DOI. Thế là chị réo to trong khi anh chồng vẫn trong nhà tắm:
-Đứa Tan tình đời nào gọi anh đây, á à, sâu nặng đến tan tình đời cơ à. Chị cho mày tan tình đời luôn.

Thế là chị lần danh bạ xóa luôn tan tình đời trong điện thoại của anh. Sau đó chặt mặt lạnh, cấm vận ông chồng mặc cho anh giải thích thế nào cũng không được.
Chẳng làm thế nào được, anh sang dãi bày với tôi:
-Chẳng hiểu sao trong danh bạ điện thoại của tớ lại có ông nào là TAN TÌNH ĐỜI, để vợ tớ nó nổi tam bành lên, cấm vận mấy hôm nay, xóa luôn cả danh bạ không biết đâu mà tra ai là TAN TÌNH ĐỜI nữa.
Tôi chia sẻ với bạn rồi suy nghĩ một lúc theo phương pháp “điều tra” và logic học. Tôi bảo anh bạn:
-Ông ghi danh bạ không có dấu phải không?
-Ừ, điện thoại ngày xưa không hỗ trợ tiếng Việt, chuyển sang cái mới vẫn để nguyên.
-Thế thì khả năng là số điện thoại mà ông bảo là của anh Tân ở chỗ tôi rồi. Tân Tỉnh đội không phải tan tình đời là gì. Ông kiểm tra xem còn anh Tân không.
Ông bạn tôi vỗ đùi cái đét:
-Thôi đúng rồi, anh Tân Tỉnh đội, đây này, không còn anh Tân trong danh bạ, thế có chết tôi không, thế mà không nghĩ ra. Cám ơn ông vụ này nhá, hôm nào sang hầu rượu ông, tôi về đây không thì tan tình đời mất.
Hôm sau anh bạn điện sang cho tôi bảo:
-Cơm ngon, canh ngọt rồi ông ạ. Tí nữa thì tan tình đời.
Từ đó chúng tôi đổi tên cho anh Tân là anh Tan tình đời và ông bạn tôi phải khao cả tôi và anh Tân một bữa ra trò.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

NGƯỜI CON CỦA LÀNG DỪA - TRUNG TƯỚNG NGUYỄN CÔNG TRANH



 (Viết về Trung tướng Nguyễn Công Tranh - Người con của Làng Dừa)

Quê tôi đồng chiêm trũng nghèo lắm. Nhà anh Tranh cũng nghèo như nhà tôi, chưa bao giờ có đủ gạo ăn đến mùa. Mẹ anh- Bác Dính dáng vóc nhỏ bé, da nhăn nheo, không được khoẻ. Bác rất thương người và yêu quí trẻ con. Nghe kể lại, bác nuôi anh Tranh, chị Chiến lớn lên vất vả lắm. Anh Tranh mất cha từ lúc lên sáu tuổi. Bác Dính càng nhọc nhằn hơn. Có xóm làng đùm bọc, mớ rau con cá đỡ đần, vì vậy anh Tranh rất quí xóm làng mình. Mỗi bước trưởng thành của anh, bao giờ anh cũng chia sẻ với làng xóm trước.

Anh Tranh đi bộ đội, rồi vào Nam đánh Mỹ, bác Dính khóc âm thầm. Bác Dính yếu dần theo năm tháng không còn ra đồng được nữa. Chị Pho ở nhà nuôi mẹ chồng, chị Chiến cũng có chồng đi bộ đội chống Mỹ, chị ở nhà cày ruộng, cấy trồng đỡ đần mẹ và em dâu unôi nhau. Nhọc nhằn lắm.
Sau năm 1975, hòa bình lập lại, thống nhất đất nước, anh ra Bắc học, rồi lên biên giới phía bắc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc ...
Tuy thế, một lần anh trở về, chị gái anh và vợ anh chạy ra rưng rưng nước mắt.
Chị Chiến vừa khóc vừa nói:
-Tranh ơi, bu mất rồi.
Tôi thấy anh Tranh lặng đi không nói được câu nào. anh không còn được may mắn gặp lại mẹ vì bác Dính đã đi xa.
Đời trận mạc của anh vinh quang cả hai miền Nam Bắc. ở chiến trường Nam bộ, anh chỉ huy chiến đấu ở chiến trường đến chức chính trị viên tiểu đoàn, ở biên giới phía bắc đến phó trung đoàn trưởng Chính trị nổi tiếng gan dạ và quyết đoán. Cả Sư 7 ai cũng biết tiếng anh, ở các đơn vị ngoài biên giới phía bắc phía bắc cũng vậy. Tôi được ở gần anh một thời gian cũng phần nào hiểu được, cán bộ, chiến sĩ dưới quyền anh không những nhớ từng người, anh còn nhớ hoàn cảnh của họ. Chính vì thế, ở đâu anh cũng được mọi người mến phục và kính trọng bởi sự dũng cảm, quyết đoán, gần gũi, sẻ chia, chân tình, khiêm tốn.
Tôi được đi thăm nghĩa trang Trường sơn, Đường 9, Củ Chi với anh. Đến đâu, khi thắp hương cho các liệt sĩ, anh cũng đến thăm tất cả đồng đội và đồng hương mình. Anh bảo tôi ghi lại tên của những liệt sĩ mà trước đây anh từng biết hoặc gần quê, rồi sau này anh tìm hiểu hoàn cảnh hiện nay của gia đình họ và đến thăm.
Trong quá trình công tác, cũng có những sự đố kị với anh, điều đó đã làm chậm đi bước tiến của anh nhưng không thể làm phai mờ hình ảnh của anh trong mọi người, mà ngược lại, khi anh đã có vị trí xứng đáng, anh càng được hiểu minh bạch hơn. Cũng có người đã tiếc khi hiểu anh hơi muộn. Điều đáng nói là tôi chưa nghe anh trách một ai bao giờ.
Trong công việc hàng ngày, tôi vẫn thấy anh trăn trở, cố gắng để cho tổ chức, cơ quan, đơn vị trong sạch, đoàn kết bằng những điều hết sức nguyên tắc, tế nhị và hiểu biết. Tôi biết anh cũng lo lắng nhiều cho tương lai đất nước, và cố gắng được tất cả những gì có thể trong cương vị của mình. Anh bảo rằng, khi nghỉ hưu, anh lại về quê nuôi cá, trồng cây vui với xóm làng.
Anh Tranh, chị Pho xây dựng gia đình với nhau hơn mười năm trời mới có con đầu. Nhưng nhờ có phúc, chị đảm đang thay anh dạy bảo, ba đứa con anh đều rất ngoan hiền và tình nghĩa.
Năm ấy anh được phong Quân hàm Thiếu tướng, trước khi anh chuẩn bị vẽ một bức tranh đồng quê treo lên tường để làm kỷ niệm, anh bảo tôi phác một đoạn thơ ngắn, có ý tham khảo. Tôi nói với anh không biết làm thơ, chỉ viết bốn câu văn vần:
Đồng chiêm nhọc nhằn vai mẹ
Vắng cha nặng nghĩa xóm làng
Liệt oanh một thời trận mạc
Vẫn mong thế nước thênh thang.
Đọc xong anh không thêm bớt gì, quay đi giấu khóe mắt rưng rưng, có lẽ những câu ấy đúng như cuộc đời và con người anh vậy. Anh cũng đã đem cẩn bốn câu này lên bức tranh quê.
Khi anh còn công tác hay lúc đã nghỉ hưu, bạn bè, anh em, đồng đội, làng xóm có niềm vui, nỗi buồn đều thỉnh đến anh Tranh. Cuộc nào anh cũng có mặt. Hễ anh có mặt ở cuộc vui nào là ở đấy anh em cứ xúm đen, xúm đỏ muốn đến chúc anh chén rượu. Có thể nói, hình ảnh anh Tranh rất ấn tượng trong bè bạn, đồng đội, bà con xóm giềng, họ hàng.
Tôi lại tự kể cho tôi về anh Tranh, một người con của làng Dừa, ngắn gọn như thế đấy nhưng chúng tôi phải học cả đời. Cuộc sống có lẽ chỉ cần đến vậy.

Anh Tranh đứng bên trái tảng đá. Ảnh chụp khi anh trồng cây lưu niệm tại Đền Liệt sỹ Tứ Kỳ

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

VÀI ĐIỀU SAU MỘT CHUYẾN BÔN BA

Lầu Chuông ở TP Tây An, Thiểm Tây, TQ

Đồ mỹ nghệ gò đồng ở Bát Đạt Lĩnh- Nơi có Vạn Lý Trường Thành

Chiếc lư gò đồng nạm ngọc. Những vật này đều có giá trị một vài trăm triệu đến một vài tỷ đồng Việt Nam.

Bên dãy núi Lệ Sơn - gần ngôi mộ Tần Thủy Hoàng. Người bên phải là anh Đặng Vĩnh Hoằng, cán bộ HV Tây An

Con ngựa chiến trong Bảo tàng Tây An

Những vật tròn này gọi là cái đăng, được chắn dưới mái ngói hiên nhà cổ. Trong dân gian có từ "Môn đăng, hậu đối" chính là nói hình ảnh từ vật này mà ra. Phía trước có đăng, phía sau cũng phải có đăng đối nhau.

Bên tượng đài Đường Tam Tạng, phía xa là Tháp Đại Nhạn. Sở dĩ có tên là Tháp Đại Nhạn vì: Theo tích kể, Đường Tam Tạng đi lấy kinh qua sa mạc, nhiều ngày đói khát ngất đi, trong mơ thấy Phật hiển linh mách bảo cứ đi theo một con chim nhạn lớn. Y lời thức dậy, thấy con chim Đại Nhạn, Đường Tăng cứ theo bước và tìm được dòng suối. Khi trở về Đường, tu tại ngôi chùa này, xây nên tòa tháp đặt tên là Đại Nhạn. Tòa tháp này khi trước chỉ có 5 tầng, sau đó bị hư hại, đến đời Võ Tắc Thiên xây lại thành tòa tháp 7 tầng với kết cấu móng theo nguyên lý con lật đật để không bị vỡ. Nhưng vì Võ Hậu nổi tiếng tàn ác nên người đời thường có câu răn: Cứu một mạng người còn hơn xây 7 tầng tháp. Câu này từ đây mà ra. Có người gọi chệch đi là bảy tòa tháp.

Bên Quảng trường Thiên An Môn

Trên Vạn Lý Trường Thành. Trên phiến đá có tạc câu nói của Chủ Tịch Mao Trạch Đông: Bất đáo Trường Thành phi hảo hán. Có nghĩa là chưa đến Trường thành thì không phải là một hảo hán. Mình đến rồi nhưng vẫn là Hảo Việt.

Trong khu mộ tượng Binh mã dũng ở Lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

THIÊN ĐƯỜNG TRÊN QUÊ HƯƠNG TA

Cánh diều no gió



Miếu nhỏ

Đường vào Đồng Kênh

Nhà tôi bên kia đồng


Bên bờ ao nhà nội

Ngõ vào nhà ngoại

Mái trường giữa đồng lúa

Cây đa Làng Dừa

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

THIÊN ĐƯỜNG TRÊN CHÍNH QUÊ HƯƠNG



Êm đềm giữa dòng Sông Cầu Dáu



Sáng mùa hè oi ả

Cánh đồng vừa gặt

Bình minh xa xăm

Mái bếp nhà ngoại
Một góc xóm cửa đình

Hoàng hôn còn hừng hực lửa

Cột điện vẫn thắp đèn


Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

BÂY GIỜ GẶP LẠI

Trần Nhương



Qua bao nỗi nhọc đường
Anh về khung cửa chật
Trải một vòng trái đất
Mặt trăng giờ bay lên

Em như không phải em
Tan vào trong bất chợt
Đến tận cùng dịu ngọt
Đến tận cùng trong xanh

Anh như không phải anh
Dòng sông và cơn lũ
Mênh mang còn chưa đủ
Cho khát khao tràn về

Ngập ngừng nơi đầu hè
Tiếng chim gì khấp khởi
Anh biết mình bối rối
Gỡ ba lô lại quàng.

Bao năm rồi đạn bom
Mấy tết em chờ đợi
Anh vừa về đã hỏi
Bao giờ anh lại đi.

Bao giờ anh lại đi
Vợ bao nhiêu chiến sĩ
Đặt một câu hỏi thế
Suốt một thời chiến tranh.

Em nép vào vai anh
Tóc xanh màu áo lính
Đất trời vừa chợt tỉnh
Đất trời đắm trong mơ.

       Tôi đã gặp bài thơ này từ những năm 80 của thế kỷ trước. Thậm chí tôi cũng không dám chắc có đúng như thế này không vì qua thời gian có thể ký ức không còn nguyên vẹn nữa. Lúc đó tôi còn là một chàng trai ở lứa tuổi đôi mươi, tôi đã từng không biết hết ý nghĩa của bài thơ. Nhưng càng về sau này, chín chắn hơn tôi càng thấy nó là một bài thơ rất hay dành cho người lính.

Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

ĐẢO TRẦN THÂN YÊU

Đảo Trân trên bản đồ vệ tinh


Vụng nam

Gốc đa Bến Vụng Nam

Xóm Chài Vụng Nam

Bãi cát Vụng Nam

Men Đồi

Đường Thôn Vụng Tây


Căn nhà ở Thôn Vụng Tây


Quân dân Đảo Trần