Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

MỪNG THỌ MUỘN


        Năm 2014, trước khi bước vào năm mới, Làng Dừa có nhiều cụ chuẩn bị được mừng thọ tuổi vàng, tuổi bạc; trong đó có thây tôi là : Nguyễn Văn Đoái tuổi vàng 90, ông Nguyễn Đức Bảo tuổi vàng 80. Ông Nguyễn Quang Ân nguyên là Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Tứ kỳ, nghỉ hưu đã từ lâu. Ông Ân là người có ân tình với làng, với nước, ông rất quý mến gia đình tôi và gia đình ông Bảo. Ông Ân làm hai bài thơ chúc thọ Cụ Đoái và Cụ Bảo đưa cho tôi, bảo tôi sửa giúp, rồi in ra cho ông tặng thầy tôi và Cụ Bảo. Năm 2004, Ông Ân cũng đã làm một bài thơ chúc thọ Thầy tôi 80 tuổi.Bài thơ cũng đã đăng trong Blog này với tên "Chúc thọ ông Đoái"
Ông Nguyễn Quang Ân 


     Ông nhờ thế, ấy vậy mà tôi quên mất. Năm nay ông vừa mất đầu năm (Nói đúng ra ông vừa mất đúng ngày 30 tết Mậu Tuất), và thầy tôi cũng đã mất từ Tháng 3 năm ngoái. Không hiểu ai xui khiến, tôi lục trong một cái cặp công tác cũ của mình đã bỏ từ lâu mới nhìn thấy bản viết tay của Ông. Thật vô cùng ân hận vì quên lời dặn của ông. Tôi đã sửa bài thơ một chút và in ra thật đẹp đem về để lên bàn thờ thầy tôi và gửi cho ông Bảo và nói ông thông cảm. Tôi nghĩ rằng đã bốn năm trôi qua, quá muộn để làm việc này, nhưng muộn còn hơn không.

MỪNG THỌ
Cụ Nguyễn Văn Đoái chín mươi tuổi vàng

Mừng Cụ thượng thọ tuổi chín mươi 
Dầu dãi phong sương một cuộc đời
Chinh chiến cùng dân làng đuổi giặc
Con đò vững lái khúc đầy vơi
Phá tù vượt ngục vùng đệ tứ
Khí phách hiên ngang vẫn sáng ngời
Sánh bước trùng trùng quân du kích
Hai vai gánh vác vẹn cuộc đời

Sắt son đồng đội Cựu chiến binh
Vì nước kiên trung vẹn chữ tình
Đại thu hiên ngang vươn tỏa bóng
Quế hòe rạng rỡ cũng đà vinh
Gia đình dòng tộc đều mẫu mực
Giác móng chung vai dựng Tổ Đình *1
Xóm dưới làng trên còn thơm tiếng
Bách niên thụ hưởng khúc thanh bình.

                             Mùng một, tháng giêng, năm Giáp ngọ 2014
                                             Nguyễn Quang Ân

MỪNG THỌ
Cụ Nguyễn Đức Bảo Tám mươi tuổi vàng

Giáp ngọ xuân nay tuổi tám mươi
Phong sương từng trải cả cuộc dời
Thanh bạch lương y như từ mẫu*2
Tấm lòng, công đức vạn trùng khơi

Một thời cống hiến tuổi thanh xuân
Đánh Tây, chống Mỹ đã góp phần
Mẫu mực gương trong lưu hậu thế
Cháu con tiếp bước rạng tiền nhân

Mùng một, tháng giêng, năm Giáp ngọ 2014
                                            Nguyễn Quang Ân

*1 Khi Làng trùng tu lại Tổ đình Gia xuyên,Nhà chùa chọn Cụ Đoái là người giác móng.
*2 Cụ Bảo là Y sĩ, khám bệnh cho dân làng.

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

U23 VIỆT NAM ĐÃ LÀM TÔI TRỞ LẠI VỚI BÓNG ĐÁ VIỆT NAM


Tôi đã từng yêu bóng đá Việt Nam.
Bóng đá nước nhà cai đâu có dễ
Phấn đấu vươn lên qua từng thế hệ,
Cũng thứ hạng Seagame đồng bạc đem về
Rồi các chú xem trời chỉ bé tí ti
Nhậu nhẹt, rượu bia, tưng bừng quảng cáo
Ký tá ôi thôi đầy trên mặt báo
Nickname nguệch đầy trên lưng áo học sinh
Dàn xếp thắng thua, tỉ số bất minh
Bán độ, bán thân, bán cả người cổ vũ
Rồi bóng đá Việt Nam trở thành con cú
Cho cả Lào, Sing, Ma, Líp vặt lông
Từ cầu thủ hay đến bị treo chân
Có chú gan tham vô tù bóc lịch
Các chú từ ta trở thành kẻ địch
Hỏi rằng không cai mới chuyện ngược đời
Rồi có một hôm, vật đổi sao dời
Bóng đá nước nhà chuyển giao chiến lược
Thay bộ, thay ban không còn phụ thuộc
Cơ chế cũng thay, tiên tiến vận hành
Đoàn kết, quyết tâm, quân cán một lòng
U23 lên đường vào trận đánh
Mấy trận đầu cứ nghĩ mình chưa mạnh
Hai trận sau thắng kình ngạc chẻ tre
Rực đỏ cờ hồng, thành phố đến làng quê
Iraq, Qatar, Úc, Hàn đều lác mắt
Cả nước Trung Hoa cờ Việt Nam chất ngất
Người hâm mộ hân hoan ôm bóng đá vào lòng
Quay lại lần này quyết giữ đến cùng
Vì một Việt Nam, vì cả sự nghiệp chung
Các chú luyện rèn, chúng tôi cổ vũ
Dồn sức tiến công, tập trung cao độ
Bọn anh ở nhà sẵn sàng và rầm rộ
Mong đón U23 đem cúp trở về
Sự nghiệp vinh quang phía trước rất nặng nề
Các chú hãy tiến lên! Trận này ta quyết thắng .

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

TUỔI THƠ TRÊN LƯNG TRÂU


      Từ xa xưa đến nay người làng tôi vẫn là canh nông vi bản, có nghĩa là cấy trồng hạt lúa, củ khoai vẫn là nguồn thu nhập chính. Từ khi còn bé tôi đã nghe một câu mà thầy tôi thường nói: Con trâu là đầu cơ nghiệp con ạ. Tuy nhiên tôi chẳng hiểu gì về hai chữ cơ nghiệp.
        Năm lên tám tuổi, lúc đó tôi mới học lớp một tôi đã biết đi chăn trâu. Đầu tiên là chị Tiến dạy tôi dắt trâu. Chị bảo, trâu nó hay bắt nạt trẻ con lắm, không quen là nó húc ngay, tôi cũng sợ. Chị giật dưới bờ ruộng (Nay là chỗ cổng nhà ông Trúc, gần cây đa ông Bơn) một nắm cỏ gà non, đưa cho tôi cầm và đưa vào tận mũi con trâu, nó ngửi ngửi rồi ăn ngon lành, chị bảo thế là nó quen hơi em rồi đấy. Từ đấy thỉnh thoảng tôi lại dắt trâu đi chăn thay chị.
Nhà tôi được hợp tác xã giao đảm nhiệm nuôi một con trâu cái. Nuôi một con trâu được tính điểm bằng một công (Gọi là công trâu). Trâu nhà tôi sừng cong đều tròn như cái mâm, hơi cúp một chút. Nhìn con trâu cũng biết là nó hiền. Nó hiền từ ánh mắt cho tới nết ăn, nết uống, đến cách đánh ruồi. Động tác nào cũng rất chậm rãi. Đôi lúc tôi cứ thấy nó hiền như chị Tiến nhà tôi. Người ta bảo, trâu nhà ai nuôi lâu ngày nó cũng giống người nhà ấy, kể cả về dáng vẻ và tính cách.
        Con trâu nhà tôi chỉ cần nhìn cách hàng cây số cũng phát hiện ra đặc điểm của nó. Hình dáng to, bụng bè bè, nhất là lúc nó có bầu. Bụng to thế nhưng lưng lại bổng, có phần hơi cong lên chứ không võng xuống. Chính vì hình dáng thế nên khi bơi qua sông nó rất nổi, khi chúng tôi sang sông chỉ việc xắn quần, đứng trên lưng trâu là không bao giờ ướt. Tôi cũng là một tay cự phách về “tài” đứng trên mình trâu sang sông. Tuy nhiên vẫn còn thua xa so với Tải, Nhị, Cửu. 
        Ngày ấy, bạn chăn trâu với tôi rất đông, có Tải, Nhị, Cửu, Hưng (Con ông Chử), Hưng (Con ông Ý), Duyển, Mão, Trình (Con bác Tạn), anh Trọng... Nếu là trâu chơi, buổi sáng ra đồng chúng tôi đều hẹn nhau cùng đi. Ra đến đầu làng là cả bọn bắt đầu phi trâu, cả đàn trâu phi rầm rầm từ đầu làng ra tận ngoài đê dài cả cây số. Người lớn vác cuốc cày ra đồng cứ phải né vào bên cạnh, các bà các chị thế nào cũng chửi: Mấy thằng thổ tả kia. Có bác khi gặp bố mẹ lũ trẻ trâu thường hay bảo: Tôi thấy cái thằng nhà ông bà cứ ra đồng là nó đánh trâu lồng, bảo nó đi không thì có ngày bó bột (ý nói là gẫy tay, gẫy chân). Bọn trẻ gọi là phi trâu thì người lớn lại gọi là trâu lồng. Trâu nhà tôi là trâu cái nên khi phi trên bộ thì nó bao giờ cũng chậm nhất trong đàn nên cũng chẳng lo về việc ấy. Vả lại có ngã là ngã mấy thằng tò te cưỡi phải trâu mới lớn thôi, chứ trâu trưởng thành thì không ngã được vì nó chạy rất êm, không tắt ngang, tắt ngửa. Cả đàn trâu chạy như thế, có thằng nào ngã xuống đất cũng không bao giờ trâu giẫm lên người, nó tránh được hết như kiểu tránh các mô đất vậy.
Cả nhà tôi ai cũng chăm trâu và yêu quí trâu. Mẹ tôi, chị Tiến đi cắt cỏ, bao giờ cũng chọn cỏ ngon cắt đẫy gánh. Mùa nhiều cỏ không sao, mùa thu, mùa đông hiếm cỏ, mẹ tôi hoặc chị Tiến phải sang tận đồng Gang, bãi Tú, bãi Vực xa hàng bảy đến mười cây số cắt cỏ. Có khi còn phải đẽo cả gốc cỏ gừng cho trâu. Có lúc chúng tôi vừa thả trâu lại vừa phải cắt cỏ cho vào bao để đem lên mình trâu đưa về nhà phụ giúp với mẹ và chị. Con trâu nhà tôi bao giờ cũng béo nhất làng, cứ hai năm nó lại đẻ một con nghé. Mỗi lần hợp tác xã mở hội thi trâu, thể nào trâu nhà tôi cũng đoạt giải. Tôi nhớ một giải chỉ được tặng một cái nón và con trâu được buộc một bông hồng vải đỏ vào sừng. Tôi chẳng để ý gì đến cái nón, tôi chỉ thích bông hồng vải.
       Chăn trâu có nghé là rất vất vả, lúc nhỏ thì vừa đi nó vừa rúc vú mẹ để bú nên đi rất chậm, hay bỏ xa đàn. Khi nó đã được bảy tám tháng thì hay nhảy xuống ruộng ăn lúa. Để hạn chế nó, thầy tôi lại phải đan một cái rọ mõm để đeo vào cho nó, đến bãi thả lại phải tháo ra cho nó ăn cỏ và bú mẹ. Khoảng gần một năm, đến lúc sắp giao nghé cho hợp tác xã, Thầy tôi phải xiên mũi cho nghé để có lỗ mũi buộc sẹo. Thầy tôi làm róng gông con nghé lại, rửa sạch mũi nó bằng nước muối và dầu tây, lấy một cái dùi nức rổ nung qua lửa xiên qua chỗ mỏng nhất giữa hai lỗ mũi con nghé. Thầy tôi bảo như thế nó không bị đau lắm và sát trùng. Sau khi xiên, lấy một đoạn cây mây để tròn, cắt ngắn, đập dập hai đầu, thắt nút một đầu trước sau đó xuyên qua lỗ đã dùi. Đầu còn lại thắt một nút nữa cho thật sát ngắn, sau đó cắt chỗ thừa đi. Lấy nước tỏi và muối xát vào chỗ vết thương. Con nghé bị đau bỏ bú mất vài ngày, thế nhưng chỗ bị xiên nó liền cũng rất nhanh. Thầy tôi bảo, không phải ai cũng xỏ được mũi nghé, cũng có người vụng, sau khi xỏ nhiễm trùng rất lâu khỏi, lớn lên con trâu bị sứt mũi và điều khiển nó rất dai mũi và ít tuân lệnh chủ. Vậy nên mới có câu “Ương như nghé sứt” là vì thế.
Khi vết thương ở mũi con nghé lành hẳn cũng là lúc phải làm sẹo, xỏ thừng vào dắt cho quen dần. Đầu tiên xỏ thừng vào rồi mai thừng lên sừng nghé, sừng nó ngắn, bị ruồi bâu đốt là nó hay đánh mốc (tức là tìm mô đất húc sừng vào đánh tung hoăng lên) do vậy rất hay tuột thừng ra, rất hay phải mai lại. Nếu không mai lại là nó lại dẫm vào thừng, vì đầu cái dây thừng có mấu, dắt vào khe chân nó không tuột ra được, mỗi lần bước là một lần mũi nó lại bị kéo dật về sau không bước đi được.
         Khi con nghé đã được hơn một năm tuổi là nó phải tập cày, tập bừa. Tập cày cho nghé thì gọi là vực nghé. Khi vực nghé thường chọn một ruộng mạ vừa nhổ, đất rắn vừa phải, chỉ cho kéo bằng cái bắp cày, sau đó mới vực bằng cày thật. Khi vực bằng cày phải chỉnh cày ăn thật nông rồi vực nghé. Lần đầu phải có hai người, một người dắt đằng trước, một người cầm cày đằng sau, sau vài buổi quen mới vực một người. Người vực nghé thường phải biết nghề, vừa đi vừa xướng lên những câu ca vực nghé:
     Ơ…hơ… hơ
     Còn nhỏ làm nghé, lớn lên làm trâu
     Bé ăn chơi, lớn phải đi cày
     Nghé ngoan ơi nhớ lấy câu này
     Mắt nhìn thẳng về phía trước, 
Hai chân trước bước lên trước
Hai chân sau bước tiếp theo sau,
Vai gắng lên mà kéo cày đi nào.
     Ơ…hơ… hơ
Nghe tiếng vắt thì bước chân vào
Thấy kéo mũi thì bước chân ra ….
Bước đi cho đều, sá cày mới thẳng… nghe con.
Đi cho chắc sá này, mai ngày tốt lúa.
Ta lấy hạt thóc, mày ăn bó rơm thơm.
      Ơ…hơ… hơ
Khi đến đầu bờ, móng chân bấm chặt vào bờ
Ta nhấc cày lên, nghe tiếng vắt thì quay đầu lại
Vắt vào, quay đầu lại đi nào.
Nghe tiếng roi quất thì bước chân đi.
Cày nhanh sá thì nghỉ sớm, đi chậm thì nghỉ muộn con à.
      Ơ…hơ… hơ
     Cứ như thế, người vực nghé hát vang cả cánh đồng trong cảnh yên bình. Người vực nghé giỏi cũng là người cày giỏi và có kinh nghiệm, tay cầm roi nhưng không bao giờ đánh trâu mà nó vẫn đi. Hình như con nghé cũng hiểu tiếng người và ưa dỗ ngọt. Chúng tôi rất thích xem vực nghé là vì vậy. Xem mãi không biết chán. 
Đội nhà tôi là đội bốn, ở đội năm hay đội sáu gì đó Thuộc làng Dáu (Thôn Đồng Lộc), do chăn trâu không tốt nên cứ chết rét dần. Để duy trì số lượng trâu và đảm bảo sức kéo, hợp tác xã lại có chủ trương đổi trâu béo lấy trâu gầy. Chú thím Hoàn có họ hàng với nhà tôi chăn trâu vụng để gầy giơ xương, lúc nào cũng đói dính (Tức là như thể da bụng bên này dính sang da bụng bên kia được bọn trẻ trâu chúng tôi gọi là đói dính), thường xuyên bị phạt điểm. Thế là hợp tác đổi trâu nhà tôi cho nhà chú Hoàn, lấy con trâu gầy nhà chú giao cho nhà tôi. Lần ấy tôi buồn vô cùng và không bằng lòng với điều bất công ấy. Thế nhưng Bu tôi bảo: Thôi con ạ, trâu gầy yếu về nhà mình chăm lại béo con ạ. Chắc do nể họ hàng nên thầy bu tôi cũng không nỡ thắc mắc gì. Tuy thế những ngày mới đổi, cưỡi lên mình con trâu gầy giơ xương ngồi rất đau mông. Do nhớ con trâu cũ nên cứ ra đồng là tôi lại tìm xem con trâu cũ nhà tôi ở cánh đồng nào. Nếu không nhìn thấy cũng bâng khuâng. Chăn trâu lâu ngày, người và trâu cũng có tình cảm, con trâu cũng nhớ chủ cũ. Nếu ở gần mà nhìn thấy chủ cũ, con trâu cũng ngẩng lên kêu “ò.. ọ” và chạy đến hít hít vào người, vào tay. 
Chả thế mà có lần hợp tác xã thịt con trâu đực nhà bác Đọc, anh Bính lúc đó trạc tuổi với tôi, thấy trâu nhà mình bị quật ngã, kêu rống lên và bị chọc tiết, anh ấy ngồi trên tường bao nhìn xuống đã khóc rất to vì thương trâu, cứ thế anh ấy quệt nước mắt đi về. Quả thực, nghe con trâu nó kêu khi bị kéo đổ, mắt nó cầu cứu, nước mắt giàn ra, thương tâm lắm. Thịt trâu xong thường thì chủ trâu được lấy đôi sừng, nhưng thường cũng chẳng ai lấy. Anh Bính cũng vậy, anh ấy dỗi vì thịt mất trâu nhà anh ấy. Thế là bọn trẻ trâu chúng tôi lại xin, đem về ngâm cho tụt hết lõi đi để làm tù và.
Chăn trâu cái nó hiền, lúc nó không nuôi con thì có phần nhàn hơn chăn trâu đực. Cạnh nhà tôi là nhà Duyển, bạn thân với tôi. Nhà Duyển chăn một con trâu đực mộng, ngày ấy những con trâu đực tốt thường hợp tác để làm giống; còn những con không có dáng dấp hoặc dữ quá thì đều thiến đi cho nó thuần. Con trâu nhà Duyển dáng đúng là lực sĩ, ngực to, chân chắc, cổ vại u lên, sừng củ ấu. Ngửi thấy mùi trâu đực ở đâu là nó giật mũi đi tìm đánh nhau. Trong làng có mấy con trâu đực mộng, hễ cứ gặp nhau là đánh, đó là trâu nhà Duyển, trâu ông Đào, trâu bác Quát, trâu bác Đọc, trâu ông Phận. Những con trâu ngang sức nhau, dù đánh nhau đã thua rồi nhưng lần sau gặp chúng lại đánh, chứ không giống như các loài vật khác, đã thua một lần là lần sau gặp lại, con đã thua rồi là tự bỏ đi. Có lần con trâu nhà Duyển với con trâu bác Quát đánh nhau cả buổi chiều, đánh từ trên bờ, xuống giếng chùa, ra ruộng lúa, nhảy xuống ngòi. Trâu đánh nhau mà cá còn không chịu được phải ngoi lên. Cứ mỗi lần như thế chúng tôi đứng xem mà thích thú, chỉ có người lớn là xót xa vì ruộng lúa bị phá tan tành. 
Tuy trâu đực hung hăng thế nhưng con trâu nhà Duyển với người nó lại rất hiền. Khi nó nằm nghỉ mát dưới gốc tre, mồm nhai lại, mắt lim dim, chúng tôi cứ ngồi lên lưng nó lấy mảnh sành cạo, vót sừng cho nó thật nhọn để nó đánh nhau. Con trâu có vẻ khoái điều này nên nó cứ để yên cho chúng tôi cạo sừng.
Tôi nửa ngày đi học, nửa ngày hoặc đánh dậm, nấu cơm, cắt cỏ hoặc chăn trâu. Đấy là tuỳ thuộc vào từng mùa. Nếu mùa trâu chơi thì một buổi chăn trâu. Nếu là buổi sáng thì sáng sớm đã cưỡi trâu đi, khoảng gần trưa thì về ăn cơm rồi đi học. Vì là trâu chơi nên buộc cho nó nghỉ đến 4 giờ chiều mới cần có người phải dắt nó đi ăn đến gần tối tối. Nếu sáng đi học thì chiều đi chăn. Buổi trưa bọn trẻ trâu chúng tôi quẩy dậm ra đồng, đánh một hai tiếng đã lưng giỏ cá tôm lẫn cua. Về nhà để bà làm rồi chiều dắt trâu đi chăn.
Trên lưng trâu vắt vẻo, nếu có bất kỳ cuốn truyện hay cuốn sách nào đều đọc cho ngấu nghiến, không sót một chữ nào. Có những cuốn truyện hay đọc đi đọc lại cho đến thuộc. Tôi nhớ nhất những cuốn: Kho tàng truyện cổ tích Việt nam của Nguyễn Đổng Chi, đọc hết cả khảo dị; “Dưới đám mây màu cánh vạc” của Thu Bồn mượn của chị Hút; “Con đường dẫn tới các vì sao” mượn của anh Bình nhà tôi, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in từng nhà khoa học; “Tiếng gọi nơi hoang giã” nhân cách hóa về một con chó có tên là Bấc. Chuyện ngắn chọn lọc nước ngoài của nhiều tác giả nổi tiếng, có những câu chuyện như “Chiếc lá cuối cùng”, “Đấu bò tót”, “Khúc thịt bò” …Rồi sau này đọc tác phẩm “X30 phá lưới”, “Vật lý vui”, “Đội thiếu niên Bát sắt” … Nếu không có truyện đọc, chúng tôi lại tình nguyện trông trâu, đuổi trâu cho Ông Nguyện để ông kể chuyện Thạch Sanh, chuyện Tiết Đinh Quý, Tiết Đinh Sơn cho nghe. Cứ thế chả mấy chốc đã hết buổi. Chính những câu chuyện này đã dần cho chúng tôi lối sống, vốn sống và kiến thức sau này.
Nếu không phải mùa thì bọn trẻ chúng tôi thả trâu rồi đuổi bắt nhau dưới sông cả buổi. Tất cả bọn chúng tôi đều giỏi bơi lặn, hơn kém nhau không đáng là bao. Trong lũ trẻ trâu, bơi giỏi nhất là Tải; Hưng (Mát) và tôi ngang nhau, đến Nhị, Cửu, Duyển, Hưng (Hằng), Mão, Trình (Con bác Tạn) và Hưng (Con ông ý) xếp hạng sau cùng. 
Hàng ngày chúng tôi chơi đuổi bắt dưới sông, luật chơi là rút thăm, ai được cây cỏ ngắn nhất thì phải đuổi, số còn lại bơi lặn trốn. Người đuổi phục trên bờ phóng xuống, vỗ vào được ai thì người ấy lại đổi sang vai đuổi bắt. Có đứa khôn giả vờ nhao xuống cho đối phương lặn, thế rồi đứng chờ trên bờ, khi thấy đứa kia hết hơi ngoi lên, chưa kịp nhìn thì bị nhao trúng người. Có lúc tôi lặn rồi chui vào trong hườm bờ sông, bên ngoài cỏ che kín làm cho người đuổi còn tưởng mình lặn lâu, thậm chí còn tưởng tôi bị chết đuối. Về sau, ai cũng bơi giỏi không bắt được thì đổi sang luật lấy đất bùn ném, trúng người nào người ấy phải đuổi. Cứ như thế có hôm lặn ngụp ba bốn tiếng dưới sông.
Có những đoạn sông sâu hàng mấy cây sào, chúng tôi thi tìm mò những vật mà ném từ trên xuống, ai lấy được lên là thắng. Đầu tiên ném nửa hòn gạch, dần dà chỉ ném hòn gạch bằng quả ổi rồi lặn xuống mò lên. Thế mà không sót hòn nào. Tôi, Tải, Hưng (Mát) là những thằng bạo gan, thường hay thắng nhất. Hết những khúc sông bình thường thì chuyển sang những khúc sông sâu hơn, hoặc vụng xoáy. Kể cả ngã ba sông mà nhiều người lớn đồn là có ma mấy thằng bạo gan chúng tôi cũng không sợ. Một số đứa khi nghe chúng tôi dọa: “Trâm đấy” là chúng không dám lặn xuống tận đáy. Chả là ở khúc sông sâu ấy có chị Trâm và cu Từ nhà ông Tư bị chết đuối. Chị Trâm cũng chỉ vừa mười sáu, mười bảy rất đẹp người; cu Từ còn ít tuổi hơn chúng tôi, thương lắm nhưng vẫn đem ra dọa nhau. Chúng tôi còn lấy bùn trát lên thân đê rồi thi nhau trượt từ mặt đê xuống nước cả mấy chục mét. Nếu nước cạn trơ lòng sông thì chúng tôi nằm ngửa trên váng phù sa mát rượi, dùng hai chân đẩy cho người trượt đi giữa lòng sông một cách thích thú. Mùa hè thì lặn xuống tận đáy sông rồi nằm trên nền phù sa mát rượi. Lúc đó do ngày nào cũng lặn ngụp, chúng tôi có thể nín thở được vài phút dưới đáy sông.
Trẻ trâu thì ở đâu cũng nổi tiếng nghịch ngợm. Sau này nghĩ lại thấy không hình dung nổi mình lại làm được những việc như thế. Cống ông Toà và cống ông Chử là nơi để chúng tôi trèo lên phóng tên lửa hoặc khoanh chân làm cối 81 từ trên cao xuống mặt nước, cột nước càng cao càng thích. Có thằng lặn xuống, vừa nhô lên há miệng thở bị một quả “cối 81” ở gần, nước ộc vào miệng ho sặc sụa, vậy nhưng đó là chuyện thường chẳng bao giờ giận nhau. Có những đứa mệt định lên bờ nghỉ sớm mà thằng dưới nước vẫn còn muốn chơi, liền lấy đất bùn ném vào người cho không mặc được quần áo, thế là lại phải chơi tiếp.
Có những hôm mở cống, nước to, chảy rất xiết, chúng tôi còn chơi trò nhảy xuống bên này cống, lặn xuống cho trôi ra bên kia cống quãng đường mấy chục mét thân đê. Có khi sạt người vào thành bê tông xước hết người. Đấy là trò mạo hiểm nhất, sau này nghĩ lại thấy mà sợ. Nếu chỉ cần có một cành rào ở giữa cống mà vướng vào thì kể như cuộc đời kết thúc.
Có những hôm nước rất trong (Quê tôi vùng nước lợ mà), chúng tôi lặn xuống cống, mở mắt tìm mò những con cá bò, cá bống trong kẽ đá ở chân cống. Có lần bị cá bò đánh rách cả tay, mở mắt dưới nước nhiều, lúc lên bờ mắt đứa nào đứa nấy đỏ hoe, nhìn cảnh vật xung quanh đều có màu rất vàng. Thế mà không hề hấn gì, lại còn cảm thấy thích thú với cái màu vàng của cảnh vật xung quanh. 
Vào mùa đông rét mướt, không tắm sông được, chúng tôi nặn mỗi thằng một cái lò đất, chỉ to bằng bàn tay người lớn, đốt củi lấy than hồng sau đó lấy quả phi lao khô cho vào rồi thổi hồng lên và cầm trên tay cho ấm. Có lúc không có quả phi lao khô thì lấy phân trâu khô cũng đốt được. Làm lò đẹp nhất là Cửu, Nhị và Duy. Tôi và Tải thì làm lò to hơn cả, cốt ấm và không nóng tay. Tôi còn nhớ, có lúc Nhị và Cửu thổi lò mạnh quá, quả thông cháy đỏ nóng rực bay ra khỏi lò rơi lên mình trâu, con trâu bị bất ngờ nhảy dựng lên làm người cưỡi ngã văng xuống đất. Thấy bạn không sao, cả bọn lại cười như pháo rang thích thú.
Có hôm không có trò gì, bọn trẻ chúng tôi chia thành hai nhóm, xếp đất ải giả làm thành quách rồi ném nhau. Tất nhiên là nguy hiểm rồi nhưng không thú vị thì chơi làm gì. Có nhiều hôm còn ném nhau với lũ trẻ chăn trâu Thanh Kỳ (Làng bên kia sông). Các anh lớn tuổi thì phục kích, bọn trẻ nhỏ chúng tôi làm mồi nhử đứng bên này khiêu khích sang bên kia sông. Lũ trẻ trâu Thanh Kỳ bực tức cậy đông nhảy ào xuống sông bơi qua đánh, chúng tôi giả chạy. Khi chúng nó gần đến bờ bên này, các anh lớn nằm dưới cói đứng lên ném đất đá vào đội hình bọn trẻ Thanh Kỳ, lúc đó chúng tôi quay lại hỗ trợ. Bọn trẻ Thanh Kỳ thua chạy, mấy ngày sau đó cũng dùng chiêu nghi binh nhưng không lần nào lừa được chúng tôi. Đánh đấm nhiều lần thế nhưng rất may cả hai bên ít khi nào có thương tích nặng xảy ra. Sau này khi con đê đắp liền lại để phục vụ Trạm bơm Cầu Dừa thì trẻ hai làng không đánh nhau nữa mà còn chơi với nhau.
Chăn trâu vất vả nhưng cũng có cái thú của chăn trâu. trẻ trâu có rất nhiều trò chơi mà những đứa trẻ khác không bao giờ biết được. 
Đánh khăng là trò chơi thú vị của lũ trẻ trâu. Khăng có thể làm từ nhiều loại gỗ, tre khác nhau, nó bao gồm hai khúc, khúc dài gọi là mẹ, khúc ngắn gọi là con. Những đứa trẻ trâu còn nhỏ có thể làm bằng cây điền thanh to, loại này nhẹ, nhất là lúc khô đi. Khăng bằng cây điền thanh thì dễ đánh, vả lại nếu có văng vào đầu cũng không đau. Trẻ trâu lâu năm thường làm khăng bằng loại tre già, bằng gỗ xoan hoặc gỗ đa già đảm bảo nặng và rắn chắc.
Luật chơi khá đơn giản, một đám trẻ chia thành hai nhóm đều nhau về trình độ chơi. Cũng có thể có đội nhiều hơn nếu bên ít đồng ý chấp. Có hai người cũng có thể chơi được. Hai bên thống nhất chơi bộ khăng của một đứa trong nhóm. Bộ khăng nào có con con càng ngắn thì càng khó chơi vì vụt khó trúng. Thế nên cần phải thống nhất từ trước, không ép được, nếu ép một bên sẽ bỏ chơi, thế là mất vui.
Chơi khăng có ba bước: Lồ, mắm và gà. Bên nào đo được nhiều con thì bên ấy thắng. Tính bằng cách mắm ăn mẹ (Đo bằng con mẹ), gà ăn con (Đo bằng con con) Phần thưởng có thể là cõng, nhổ tóc hoặc giết rôm.
Đầu tiên phải đào lồ, cái lồ là một cái lỗ ở chỗ đất cứng dùng để lồ và gà. Đào lồ xong sau đó cắm hướng để đánh khăng, vẽ một đường kẻ ngang ở phía trước gọi là mấc (Chắc đồng nghĩa với từ mức), mấc xa hay gần cũng phải thống nhất, làm xong thì chơi.
Để chọn bên chơi trước phải thi khấc. Khấc là lấy con khăng mẹ tâng con khăng con, khi nào con khăng con rơi xuống đất thì thôi. Có thể chọn ra hai đứa khấc giỏi nhất để thi với nhau, cũng có khi cả đội cùng khấc rồi cộng lại, bên nào khấc được nhiều hơn thì được chơi trước. Bên chơi trước sẽ đánh khăng, bên kia đón.
Đầu tiên là lồ. Đặt con khăng vào ngang miệng lồ, sau đó lấy con mẹ chọc xuống miệng lồ hất con khăng đi phải qua mấc, tất nhiên càng xa càng tốt. Nếu bên lồ mà lồ sai hướng đã cắm hoặc lồ không qua mấc là phạm qui, đứa ấy mất lượt phải ra cho đứa khác trong đội vào chơi. Nếu lồ đúng hướng mà bên đón không bắt được thì coi như qua bước lồ, bước vào mắm. Nếu bên đón bắt được con khăng lồ thì lúc đó bên lồ phải để gác mẹ khăng lên trên miệng lồ bằng hai hòn gạch hoặc hai hòn đất nhỏ. Bên đón sẽ đứng ở mấc nhằm mẹ con khăng và ném. Nếu trúng rơi mẹ con khăng xuống đất thì đứa lồ đó phải ra để đứa khác trong đội vào chơi. Còn nều ném không trúng thì chuyển sang bước mắm. Tuy nhiên việc bắt con khăng cũng phải kỳ là bắt bằng tay chứ không được “ôm em”- Có nghĩa là không tính ôm con khăng rơi vào ngực hoặc vào bụng.
Mắm: Tay thuận cầm mẹ khăng, ngón cái và ngón trỏ cầm con khăng, tung con khăng lên sau đó lấy mẹ khăng vụt mạnh để con khăng đi càng xa càng tốt. Nếu bên đón mà bắt được thì bên đón được đo và tính từ chỗ bắt được đến tận lồ. Đơn vị tính bằng độ dài của con mẹ. Thế mới gọi là mắm ăn mẹ. Đứa bị bắt lại phải ra cho đứa kế tiếp đánh. Ngược lại, nếu không bắt được thì bên mắm được đo và tính cho mình rồi chuyển sang gà. Nhưng nếu kỳ nhau mà ba mắm thì mắm hết ba lần mới thôi. Cơ hội chia đều cho hai bên. Có đứa không biết mắm bằng một tay, khi tung con khăng lên vụt không trúng thì mắm bằng hai tay, mắm kiểu này thì đi rất gần và dễ bị bắt. Còn mắm hụt thì coi như hỏng.
Gà: Đặt con khăng vào lồ, gếch một đầu lên, nếu được phép có thể đặt ra gần đâu đó cạnh lồ cúng được. Lấy mẹ khăng đập vào đầu con khăng cho bật lên cao và vụt mạnh cho con khăng bay đi, nếu vụt trúng mà bên đón không bắt được thì bên đánh được dùng con khăng đo từ chỗ rơi về đến lồ. Gọi là gà ăn con. Và tiếp tục gà tiếp. Nếu bên đón bắt được thì bên đón được đo, bên gà mất lượt. Nếu vụt không trúng (hụt) thì cũng phải ra. Nhiều đứa đánh mạnh, con khăng làm bằng tre rất hay bị vỡ, vì vậy nhiều khi phải đẽo bằng gỗ mới chịu được. Đánh khăng, gà là khó nhất, rất hay gà hụt.
Lúc đo rất hay xảy ra cãi cọ vì nếu bên được điểm đo thì hay đo láu, ngoáy con khăng sang hai bên để tăng điểm, nếu bên bị dành lấy đo lại hay bỏ quãng, cho nên thế nào cũng ì xèo. ấy thế rồi cũng chấp nhận được, nhưng đôi khi cũng phải đo lại. 
Lần lượt hết đội này sẽ tiếp đến đội kia chơi. Khi hai đội chơi hết lượt, tổng kết bên nào nhiều điểm là thắng, bên thua phải cõng, mấy vòng là do kỳ với nhau từ trước, tính theo trăm điểm. Cứ như thế chơi mãi không biết chán.
Ngoài những trò chơi ở trên, trẻ trâu còn có những trò như đánh bi, đánh gụ, đánh đáo, thả diều. Mải chơi mà cho trâu về muộn hoặc quên việc, có đứa về nhà bị bố đánh lằn mông lên, gọi là bị ăn lươn.
Có một trò chơi có thể nói bác học nhất của trẻ chăn trâu chúng tôi, đó là thả diều. 
Nói đến chuyện thả Diều của trẻ trâu có thể nói cả ngày không biết chán. Tôi nhớ như in một câu chuyện ở Làng Dáu mà tôi được nghe kể lại thế này (Hình như chú Hoàn nhà tôi kể) : 
Ông N ở Làng Dáu, nhiều năm trước, năm nào cũng thả diều. Ông vót diều và khoét sáo nổi tiếng trong vùng. Diều ông lên bổng, đứng chong, chao thưa ; Tiếng sáo diều ông réo rắt thanh bình, hòa âm như một giàn nhạc, thôi thúc lòng người. Những người biết chơi diều thì khỏi nói, đều mê diều sáo của ông, đứng ngắm hàng giờ ; Những người không biết chơi diều ít nhất cũng phải một đôi lần đứng lại, ngước nhìn con diều ông bay bổng, nghiêng tai nghe tiếng sáo réo rắt. Nhất là cánh trẻ trâu chúng tôi thì mê tít.
Ngày ấy cách đây cũng đã nhiều năm. Thời điểm ấy không phải ai cũng có điều kiện chơi diều như ngày nay: Một là không biết vót, hai là không có nhiều thời giờ rảnh rỗi, ba là thời buổi « gạo châu, củi quế » dễ đâu sắm được con diều . Ông P cùng làng là một trong những người như thế. Thực ra ông cũng thích diều nhưng không có điều kiện để chơi. Nhìn thấy những con diều chao nghiêng trên bầu trời ông thấy ngứa mắt khó chịu, nghe tiếng sáo diều réo rắt thì ông kêu inh tai khó ngủ. Ở chốn làng quê thường thường là thế mà.
Một buổi trưa, trời nắng tháng năm, diều ông N bị đứt dây, « ngập » xuống vườn ông P. Ông N đuổi theo lấy diều, đến cổng thấy ông P đang nằm võng, con chó thì nằm thở trong gốc vải sủa ngược ra, ông N không dám tự ý vào vì sợ chó liền gọi với vào :
-Chú P ơi, chú làm ơn mở cổng, trông chó giúp tôi để tôi vào tôi xin lại con diều nó « ngập » vào vườn nhà chú.
Ông P thủng thẳng đáp :
-Bác cứ vào tự nhiên, buổi trưa, chó nhà tôi nó nằm trong chỗ mát sủa ra chứ nó không chạy rông ra ngoài nắng đâu.
Ông N lấy diều xong cầm thẳng về nhà, ông đau vì câu nói không biết vô tình hay hữu ý của ông P. Thế là nó bảo mình không bằng con chó nhà nó. Người có tuổi thường hay nghĩ rất sâu.
Từ đấy, người ta không thấy ông N thả diều nữa. Có điều, khi rảnh rỗi ông vẫn đẵn tre ngồi vót diều, chặt gỗ gáo khoét sáo cho bọn trẻ trong làng. Tuy ông không thả diều nhưng mọi người vẫn nhận ra những cánh diều và tiếng sáo của ông N trên bầu trời quê hương thanh bình.
Xóm tôi cũng có nhiều người vót diều, khoét sáo rất giỏi như anh Khương, xóm ngoài có anh Huyên, xóm trên có anh Khải, anh Vị. 
Bọn trẻ trâu chúng tôi cũng mơ ước có được chiếc diều to nhưng ít dứa nào có, vả lại có làm diều to cũng không có dây để thả, chỉ chạy đâm diều ké của mấy ông anh. Chúng tôi chỉ vót được những cái diều nhỏ chừng một mét trở lại, đeo một sáo hoặc nhỏ hơn thì đeo ve. Lấy dây đay bện làm dây diều. Nếu diều cánh cốc thì chỉ việc tước dây đay nối với nhau không cần bện vì diều cánh cốc kéo nhẹ. Dù là dây diều làm bằng gì thì trước khi thả cũng phải nhúng dây vào nước dể dây dẻo, ít bị đứt.
Có lúc tôi vót cả những con diều chỉ dài hơn một gang tay, thả bằng chỉ hoặc dây bao nhưng khi thả cũng lên cao tít, do ảo ảnh nên nhiều người vẫn tưởng đấy là một con diều to.
Thả diều là một thú vui không biết chán của người miền quê. Bây giờ dù lớn tuổi tôi vẫn đi xem đám trẻ thả diều.
Bao giờ trở lại tuổi thơ
Cánh diều mang cả giấc mơ ùa về
Cưỡi trâu, thổi sáo ven đê
Lưng còng vai mẹ, gánh về cỏ non
Con hư bị bố đánh đòn
Mẹ chìa vai đỡsợ con tím lằn
Thương con nước mắt mẹ lăn
Bà thương cháu nội mắng thằng bố hư
Lớn lên cho đến bây giờ
Ngẫm tình cha mẹ, ông bà mà thương
Con đi khắp mọi nẻo đường
Không gì sánh được tình thương ruột rà
Nói đến bọn con trai, không thể thiếu nói đến lũ trẻ con gái. Tuy rằng trẻ trâu con trai là phần nhiều, chỉ họa hoằn mới có con gái chăn trâu. Thường thì họ ít thả và cưỡi trâu, mà họ chỉ dắt trâu là phần nhiều. Đôi khi có chị Luyên, cô Mát, chị Sánh, ... Trò chơi của con gái thường là chơi ô ăn quan, đánh chuyền, đánh chắt, nhảy nụ .... Tôi nhớ không được nhiều lắm, nhưng đánh chuyền thì có que chuyền và hòn chuyền. Que chuyền thường được làm bằng cành tre, có 10 que dài bằng hoặc hơn cái đũa một chút. Hòn chuyền thì nặn bằng đất hoặc quả cam, quả bưởi non. Cách chơi là rải đều que chuyền lên 1 bên chân duỗi thẳng, tung hòn chuyền lên, nhặt que chuyền xong thì bắt hòn chuyền. Bắt từ 1 que đến 10 que, hết 10 que chuyển sang các động tác cầm bó que chuyền chấm, vỗ, quét, xoay ... nhằm rèn sự khéo léo của người con gái. Vừa tung hòn chuyền vừa đọc các câu đồng dao nghe rất hay, mỗi lần tung đọc một từ theo nhịp. Tôi nhớ hình như nó thế này :
Cái mốt, Cái mai, Con trai, Con hến, Con nhện, Giăng tơ, Quả mơ, Quả mận, Cái cấn, lên đôi. (Cái cấn là con cá cấn, hay là cá thần cẩn ấy, có nhiều từ mà bây giờ nghe sẽ lạ lắm)
Đôi chúng tôi, Đôi chúng chị, Đôi cái tí, Đôi thằng cu
Đôi lên ba.
Ba lá đa, Ba chú cuội, Ba quả bưởi
Một lên tư
Tư ông sư, Tư bà vãi
Hai lên năm
Năm nong tằm
Năm lên sáu
Sáu củ ấu
Bốn lên bảy
Bảy quả na
Ba lên tám
Tám quả trám
Đôi lên chín
Chín cây cột
Một lên mười

Vơ lấy mười
Mười đập đất
Mười cất tay
Mười xay lúa
Mười thổi kèn
Mười đánh chuyên
Chuyền cầm lấy.
Và còn nhiều thứ lắm, từ chấm, đến quét, đến xoay ... rồi đọc những câu :
Đầu quạ
Qua ngang,
Sang sông
Về đò
Cò mổ… phải các chị phụ nữ đánh chuyền nhiều mới nhớ hết được. Nhiều người bảo mình đánh giỏi lắm, ấy vậy mà bảo nhắc lại thì hóa ra đã quên từ bao giờ rồi. Bọ con trai chúng tôi nghe nhiều mà thuộc mang máng, thế là đã giỏi lắm rồi.
Cứ như thế và tôi đã lớn lên, làng xóm, quê hương, cánh đồng, bạn bè, anh em, cảnh vật, trò chơi và hồn quê đã cho tôi cả dáng vóc và tâm hồn.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

ĐỘNG TÁC HÚT THUỐC LÀO BẰNG ĐIẾU CÀY

Khẩu lệnh hô: Thuốc lào hả, hút.
Khẩu lệnh có dự lệnh và động lệnh. Thuốc lào hả là dự lệnh, hút là động lệnh.
Khi nghe dứt động lệnh hút, người hút thuốc bằng điếu cày, chia thành 4 cử động như sau:
Cử động 1: Tay trái cầm điếu, đặt điếu dựa vào vai trái sao cho lõ điếu hướng lên phía trên; tay phải vê thuốc lào, đặt thuốc vào lõ điếu, dùng ngón tay trỏ ấn thuốc xuống vài lần, khi nào thuốc không bồng lên là được. Hết cử động 1.
Cử động 2: Tay phải lấy đóm, bàn tay khum lại che về hướng gió; Tay trái cầm bật lửa làm động tác bật lửa châm đóm, khi nào đóm cháy đều là được. Hết cử động 2.
Cử động 3: Nâng điếu lên, đặt miệng vào miệng điếu sao cho kín đều; Tay phải đưa đóm vào lõ điếu kết hợp với miệng hút thuốc; Rít hai ba lần, khi điếu thuốc cháy tàn hoặc gần tàn thì thổi xì bã thuốc ra, rồi nâng điếu lên rít mạnh một hơi, tiếng điếu kêu to, giòn đều là được. Hết cử động 3.
Cử động 4: Đặt điếu và đóm về vị trí ban đầu, hai tay ngồi bó gối tự nhiên, nhả từ từ khói thuốc ra cho đến khi hết là được. Hết cử động 4, đồng thời cũng hết động tác hút thuốc bằng điếu cày.
Những điểm cần chú ý:
-Chọn vị trí hút thuốc phải chọn vị trí ngồi thuận tiện, ngất gió và có chỗ dựa để đề phòng sau khi hút bị say thuốc. Không hút thuốc ở nơi có biển cấm hoặc nơi có phụ nữ và trẻ em.
-Trước khi hút phải thử xem trong điếu có nước chưa và điếu có thông không. Nếu chưa đủ điều kiện thì phải chuẩn bị điếu.
-Khi vê thuốc phải căn cứ vào lõ điếu to hay nhỏ mà vê điếu thuốc cho phù hợp. Khi xì bã thuốc ra phải có đồ đựng, tránh xì ra ngoài ảnh hưởng đến môi trường.
-Khi rít thuốc phải nâng điếu nghiêng vừa phải, không nâng quá cao nhằm tránh nước điếu ộc vào miệng.

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

VỀ LỜI BÀI HÁT: HÀNH KHÚC LLVT QUẢNG NINH

Hành khúc LLVT Quảng Ninh

                                                                   Nhạc : Đỗ Hòa An, 
                                                                Lời: Cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh
Bản quyền Bộ CHQS tỉnh

Năm 2012 nhân kỷ niệm 65 năm LLVT Quảng Ninh, Phòng Chính trị có đề xuất với đồng chí Thiếu tướng Trần Thành, LLVT Quảng Ninh nên có một bài hát truyền thống của mình. Đề xuất được tập thể Thường vụ đồng ý.
Lúc đó tôi Nguyễn Trung Trịnh (Lúc đó là CNCT), đồng chí Trần Đình Trách là Phó CNCT. Chúng tôi gửi cuốn Lịch sử quân sự của LLVT tỉnh và cuốn Quảng Ninh những trận đánh tiêu biếu để Nhạc sĩ Đỗ Hòa An nghiên cứu lấy tư liệu và cảm hứng sáng tác. Khoảng hơn 1 tuần thì Nhạc sĩ gửi lời hát vào để tôi và anh Trách duyệt.
Bài hát được nhạc sĩ Đỗ Hòa An sáng tác có âm hưởng, nhịp điệu, ca từ rất hay. Phần ca từ đã được tôi và anh Trần Đình Trách góp ý với nhạc sĩ sửa (Phần nghiêng không chân), sau đó được tập thể cán bộ chỉ huy và cơ quan đóng góp (Phần nghiêng gạch chân) rất hay và mang đầy ý nghĩa.

1.     Ta hát về truyền thống vẻ vang
                                      Sáng mãi ngàn năm Bộ đội Cụ Hồ
Ta hát về những chiến thắng vẻ vang
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh
Đã viết lên những trang sử vàng

Từ Đệ tứ chiến khu Đông Triều
Nơi chiếc nôi cách mạng quê ta
Dân đứng lên nhất tề
Du kích quân lớn mạnh
Vùng than phá xiềng đứng lên
Lực lượng vũ trang quân lớn mạnh
Vai sát vai, quyết chí và đồng tâm
Quân với dân một lòng
Ta quyết tâm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Từ địa đầu Hải Ninh
Đến liên tỉnh Quảng Hồng
Từ làng quê, xóm thôn
Đến phố thợ, nhà máy

Lịch sử bản hùng ca
Đánh thắng ngay trận đầu
Cờ hồng tung cánh bay
Khắp đất trời đông bắc

Nền quốc phòng toàn dân
 Vững mạnh và toàn diện
 Đoàn kết và Sáng tạo;
 kiên trung và bất khuất

Nền quốc phòng toàn dân
 Vững mạnh và toàn diện
 Đoàn kết và Sáng tạo;
 kiên trung và bất khuất

                  *
                *   *
2. Ta hát về truyền thống vẻ vang
                                      Sáng mãi ngàn năm Bộ đội Cụ Hồ
Ta hát về những chiến thắng vẻ vang
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh
Đã viết lên những trang sử vàng

Từ Đệ tứ chiến khu Đông Triều
Nơi chiếc nôi cách mạng quê ta
Dân đứng lên Nhất tề
Du kích quân lớn mạnh
Vùng than phá xiềng đứng lên
Lực lượng vũ trang quân lớn mạnh
Vai sát vai, quyết chí và đồng tâm
Quân với dân một lòng
Ta quyết tâm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Từ địa đầu Hải Ninh
Đến liên tỉnh Quảng Hồng
Từ làng quê, xóm thôn
Đến phố thợ, nhà máy

Lịch sử bản hùng ca
Đánh thắng ngay trận đầu
Cờ hồng tung cánh bay
Khắp đất trời đông bắc

 Nền quốc phòng toàn dân
 Vững mạnh và toàn diện
 Đoàn kết và Sáng tạo;
 kiên trung và bất khuất

Lực lượng vũ trang Quảng Ninh, đã đi là quyết thắng.
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh, đã đi là chiến thắng.

Sau một thời gian các đội văn nghệ thể hiện đã được cán bộ chiến sĩ hưởng ứng nhiệt liệt. Nhưng phần điệp khúc nhắc lại đến 3 lần ở khổ 4 câu, nên nhiều người có ý kiến là giai điệu hay nhưng hơi lê thê (Từ câu Từ địa đầu Hải Ninh.... đến câu ... bất khuất). Bản thân tôi cũng thấy như vậy. Do đó tôi đề xuất nên để khổ thứ 3 không hát ở đoạn 1, mà chuyển sang đoạn hai mới hát.
Nó hợp lý ở chỗ để đoạn 1 ca ngợi truyền thống trong các cuộc kháng chiến. Còn đoạn 2 vừa phát huy, nối tiếp truyền thống, vừa nói nên gia đoạn xây dựng nền Quốc phòng vững mạnh trong sự nghiệp XD và bảo vệ Tổ quốc và đúc kết thành truyền thống 10 chữ vàng.
Khổ ca từ ở đoạn 1 là:
Từ địa đầu Hải Ninh
               Đến liên tỉnh Quảng Hồng
Từ làng quê, xóm thôn
Đến phố thợ, nhà máy
Ở đoạn 2 đề xuất nên sửa mới là (Phần in đứng gạch chân):
Từ địa đầu Biên cương
Đến biển đảo rộng dài
Từ núi rừng, suối khe
Đến phố phường, nương rẫy
Như vậy cho phù hợp với Quảng Ninh vừa có biên giới, vừa có biển đảo, vừa có đô thị, vừa có đồng ruộng vùng đồng bào thiểu số là nương rẫy đúng như “Một Việt Nam thu nhỏ”. Hơn nữa đến đoạn này cũng không còn địa danh Hải Ninh nữa, mà là TP Móng Cái rồi. Đồng thời bài hát không nhàm chán mà dễ nhớ.
Một đề xuất nữa là câu:
          Đoàn kết và sáng tạo
Trung kiên và bất khuất
Nên đảo từ Trung kiên lên trước từ sáng tạo:
Đoàn kết và trung kiên
Sáng tạo và bất khuất
Cho phù hợp với giai điệu, vì để như cũ thường hát là sáng tao, không hát được từ sáng tạo.
Thay đổi trật tự từ trong bài hát có thể chấp nhận được vì trong nghệ thuật có tính ước lệ, và thay đổi cũng không làm mất đi bản chất, ý nghĩa của nó. Hơn nữa ngay trong bài hát, từ chiến thắng cũng đã để tách hẳn khỏi 8 chữ trước đến tận cuối cùng.
Sau khi sửa, toàn văn lời hát như sau:

1.     Ta hát về truyền thống vẻ vang
                                      Sáng mãi ngàn năm Bộ đội Cụ Hồ
Ta hát về những chiến thắng vẻ vang
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh
Đã viết lên những trang sử vàng

Từ Đệ tứ chiến khu Đông Triều
Nơi chiếc nôi cách mạng quê ta
Dân đứng lên Nhất tề - Du kích quân lớn mạnh
Vùng than phá xiềng đứng lên
Lực lượng vũ trang quân lớn mạnh
Vai sát vai, quyết chí và đồng tâm
Quân với dân một lòng
Ta quyết tâm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Từ địa đầu Hải Ninh
Đến liên tỉnh Quảng Hồng
Từ làng quê, xóm thôn
Đến phố thợ, nhà máy

Lịch sử bản hùng ca
Đánh thắng ngay trận đầu
Cờ hồng tung cánh bay
Khắp đất trời đông bắc

*
*  *
2. Ta hát về truyền thống vẻ vang
                                      Sáng mãi ngàn năm Bộ đội Cụ Hồ
Ta hát về những chiến thắng vẻ vang
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh
Đã viết lên những trang sử vàng

Từ Đệ tứ chiến khu Đông Triều
Nơi chiếc nôi cách mạng quê ta
Dân đứng lên nhất tề - Du kích quân lớn mạnh
Vùng than phá xiềng đứng lên
Lực lượng vũ trang quân lớn mạnh
Vai sát vai, quyết chí, đồng tâm
Quân với dân một lòng
Ta quyết tâm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Từ địa đầu Biên cương
Đến biển đảo rộng dài
Từ núi rừng, suối khe
Đến phố phường, nương rẫy

Nền quốc phòng toàn dân
Vững mạnh và toàn diện
Đoàn kết và kiên trung;
Sáng tạo và bất khuất

Lực lượng vũ trang Quảng Ninh, đã đi là quyết thắng.
Lực lượng vũ trang Quảng Ninh, đã đi là chiến thắng.

Chúng ta xác định tập lại vất vả một chút nhưng bài hát sẽ tăng ý nghĩa, hay và đẹp hơn.

Ghi chép: Nguyễn Trung Trịnh

BỨC THƯ GỬI CON

            22/12/2012
Các con thân yêu của bố!
          Trên 50 năm qua, nhìn lại mới thấy rằng, trong cuộc sống của mình, bố học được rất nhiều thứ. Bố học ở cha mẹ, thầy cô, làng xóm, bạn bè, đồng đội, ở mẹ con, ở các con và trong cuộc sống hàng ngày, như nhân gian thường nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Có những điều bố học do để ý, có những điều vô tình và cả những điều vô thức, mà đã học được biết bao điều bổ ích. Liệt kê lại cũng thấy thật công phu.
Các con hãy đọc, nhưng phải đọc hết, đừng bỏ giữa chừng. Dưới đây có thể liệt kê một vài dòng về những điều ấy:
Lúc trẻ bố cũng rất tự hào về những điều mình biết. Càng về sau này bố càng giấu niềm tự hào vào trong sâu thẳm tâm hồn, chỉ biết tự hào với mỗi người mà bố rất đỗi yêu thương đó là mẹ của các con. Chỉ có một vài thứ bố không tự hào là bố biết hút thuốc lá và đôi khi uống rượu, mẹ không buồn nhưng lại rất lo.
Bố mong các con dành nhiều thời gian để học và hành, học và hành được càng nhiều càng quí, học những thứ to tát trước, những thứ thiết thực trước, những điều nho nhỏ sau. Nhưng cho dù to, nhỏ thì tất cả những điều ấy đến một lúc nào đó cũng đều có ích, nếu không thì cũng là những điều thú vị trong cuộc sống.
Các con nên nhớ, những điều học được vào một lúc nào đó sẽ phục vụ cho cuộc sống (nên nhớ là cuộc sống tươi đẹp), không phải để hại một ai đó. Và những điều ấy cũng không phải để đem khoe khoang, đánh bóng trước mọi người. Nếu đem ra khoe khoang, không những chẳng ích gì mà thậm chí còn dẫn đến phiền toái nhiều hơn là có lợi.
Nếu con đem khoe với bậc bề trên con, người ta có thể nói con là đồ "ngựa non háu đá, trứng không hơn vịt". Sự thật là con có thể sẽ bị họ dìm hàng và hạ bệ nếu họ là người ích kỷ. Nếu con đem khoe với người ngang với con, có thể người ta nói con tưởng thế là tài, rồi có thể vì lòng đố kị mà con mất đi một người bạn. Nếu con đem khoe mà gặp bậc anh tài, người ta sẽ cười con là múa rìu qua mắt thợ. Thế người ta mới có câu: Tự kiêu là giật lùi là vì thế. Trong lịch sử nói chung, trong đó có cả lịch sử Dân tộc ta, biết bao các bậc trung thần, nghĩa hiệp, tài giỏi hơn người cuối cùng đều bị bề trên hoặc gian thần bức hại, đến lúc được minh oan thì đã trở thành người thiên cổ.
Gặp những người tri âm, tri kỷ, hiểu ta, phục ta thì hiếm lắm. Nhưng những người ấy lại có thể chẳng giúp được gì nhiều bởi “lực bất tòng tâm”, họ có thể còn chưa bằng ta ấy chứ. Thế nên ta lại phải trong vai người tri âm, tri kỷ với bạn bè mình, giúp đỡ họ, khéo léo đấu tranh cho họ để họ tiến bộ.
Hôm nay bố không khoe với các con những gì bố có, bởi nó mới chỉ là những hạt cát trong sa mạc mênh mông của kiến thức nhân loại. Mà bố muốn các con nhìn thấy, kiến thức biết bao nhiêu thứ như thế, có thể hơn người mà không biết dùng nó đúng cách, phỏng có ích gì. Như bố vẫn chỉ là một người rất bình thường trong xã hội. Đến lúc này, những điều bố biết chỉ còn là những điều thú vị mà thôi. Nếu bố không nói những điều này với các con, để các con tự hiểu ra thì rồi đây tuổi đời đã luống, liệu có còn cơ hội để phát huy cho sự nghiệp, để xứng đáng với những gì ta có và xã hội cần ta.
Nếu con thấy những người không hiểu biết bằng mình nhưng họ vì một lý do nào đó mà đứng ở vị trí cao hơn, các con cũng đừng bao giờ so sánh và ganh tị. Bởi chắc chắn họ có thể hơn ta ở một điểm nào đó. Còn họ không hơn ta ở một điểm gì thì cũng không cần thiết phải hơn thua, ở đời có trước, có sau, có nhân, có quả. Suy cho đến cùng, nếu là một người chân chính, mong cho người khác hơn ta mới là điều ta hướng tới, đó mới là nhân cách chân chính. Nói như vậy không phải để buông xuôi, mà phải khéo léo đấu tranh cho sự nỗ lực của mình và người khác.
Thế nên, với những thứ học được trên đường đời, các con cứ âm thầm và quyết tâm thực hiện, vận dụng vào công việc của mình, kiên trì trau dồi những kỹ năng, biến nó thành kết quả hiện thực trong cuộc sống, cầu thị tiến bộ, vươn lên không ngừng. Đừng thể hiện với ai, đừng khoe khoang với ai, đừng đòi hỏi gì ai. Rồi đến lúc nào đó gặp được người thực sự hiểu biết và chân thành người ta sẽ nhìn thấy. Nhưng việc làm tốt phải biết đưa ra phục vụ công chúng, mặt hàng tốt phải được trở thành thương hiệu, các con phải biết quảng bá kết quả, nhưng đừng bao giờ quảng bá bản thân mình, kết quả mới chính là bản thân mình vậy. Con người suy cho đến cùng là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội thừa nhận, chỉ có xã hội đánh giá mới thể hiện ra giá trị của nhân cách làm người.
Nhưng nếu không thành công trong sự nghiệp, các con cũng đừng bao giờ buồn, đừng bao giờ trách đời hay trách ai để nhận lấy những bận lòng. Bởi điều quí nhất trên đời là nhân cách con người. Làm người tốt mới là điều vĩ đại nhất. Của cải, địa vị rồi cũng sẽ qua đi. Giá trị cuộc sống mới thực sự trường tồn. Con nên nhớ tốt phải đi đôi với công bằng và hiểu biết.
Có ai nói điểm xấu là tất yếu không tránh khỏi với mỗi con người, con đừng bao giờ dễ dãi nghe theo họ. Không bao giờ cho nó là điều tất yếu, nó chỉ là những khiếm khuyết không mong muốn của cuộc sống mà thôi, nó không phải cái mà mục đích con người hướng tới, nó trái với nhân văn thì nếu vấp phải cần phải kiên quyết dứt bỏ nó khỏi cuộc đời mình.
Con hãy chăm chút từ những việc gần gũi nhất, như yêu thương ông bà, bố mẹ, vợ con, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp. Rèn luyện, giữ gìn sức khỏe. Rồi hết mình vì công việc có ích mà mình cần cho cuộc sống, đến những sở thích thú vị. Rồi đến gần gũi con người, động vật, thiên nhiên, môi trường. Những điều to tát hơn là dân tộc, đất nước và lý tưởng. Cuối cùng những thứ ấy mới là giá trị đích thực của một cuộc đời.

Bố rất mong các con vừa nhân văn, tốt bụng, vừa tài giỏi, vừa hiểu biết và hướng tới hạnh phúc và những điều cao đẹp.
   *
*    *
"Trên 50 năm qua, nhìn lại mới thấy rằng, trong cuộc sống của mình, bố học được rất nhiều thứ. Bố học ở cha mẹ, thầy cô, làng xóm, bạn bè, đồng đội, ở mẹ con, ở các con và trong cuộc sống hàng ngày, như nhân gian thường nói “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Có những điều bố học do để ý, có những điều vô tình và cả những điều vô thức, mà đã học được biết bao điều bổ ích. Liệt kê lại cũng thấy thật công phu.
1.Biết bơi, lặn từ năm 7 tuổi. Đến 10 tuổi bơi được bao xa tùy thích, lặn sâu hai cây sào (8m), lặn lâu được gần 2 phút.
2.Biết chèo thuyền nan, chống thuyền nan, chống bè mảng từ năm 7 tuổi.
3. Biết nấu cơm, chăn trâu, xay lúa, giã gạo từ năm 8 tuổi. Biết cưỡi trâu, phi trâu và qua sông trên mình trâu không ướt. Biết làm diều, thả diều, khoét sáo diều, đi kheo và các trò chơi dân gian.
4.Học giỏi các môn tự nhiên. Học sinh giỏi từ năm lớp 1 đến năm lớp 7 (Hết cấp hai). Đặc biệt vật lý, hình học và hóa học. Năm 1974 Danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ.
5.Biết cắt cỏ năm lên 9 tuổi.
6. Biết đánh dậm, đặt lờ, đơm đó, ngâm rọ, đánh nhậy, máng khăm, câu cá, câu con cà ra, bắt rắn, bắt cua từ năm lên 9 tuổi. Biết bẻ khuôn gói bánh chưng và gói bánh chưng rất đẹp (Giúp gói bánh cho cả xóm)
7.Biết gánh gồng, gặt lúa, bó rơm rạ, tát nước gầu dai từ 10 tuổi.
8. Biết nhổ mạ năm 12 tuổi.
9. Biết đào mai, cắt kéo, vác đất, bổ củi, cưa xẻ từ năm 14 tuổi.
10. Biết vạc bờ, cuốc góc năm 14 tuổi.
11. Biết đan các loại dụng cụ như rổ, rá, dần, sàng, sảo, giỏ, thời, hom, rọ.. kể cả thúng, mẹt, nong nia, biết đan bùi nhùi, lùn rơm, mũ rơm từ năm 8 tuổi.… Bu gà, sọt cỏ từ 15 tuổi, đến khi trưởng thành thì đan được hết. Biết chẻ tre, chẻ mây, chẻ lạt, buộc rui, mè, đòn tay mái nhà, buộc nhứng, trát vách đất nhà tranh. Biết đan tấm tranh lợp nhà.
12. Biết đóng gạch, xếp lò, đốt gạch.
13.Biết trồng chăm bón khoai, sắn, dưa lê.
14. Biết cày, bừa nhưng cày thì không giỏi.
15. Biết vẽ tranh ( Do học cuốn Tự học vẽ của Họa sĩ Tô Ngọc Vân), cắt chữ, chơi đàn ghi ta, thổi kèn Hacmonika. Một chút về bộ gõ. Biết nghe hát và hát quần chúng.
16.Biết tiêm thuốc cho người ốm (Bắp, ven)
17.Biết một chút về sửa chữa máy nổ Diezen. Đã sửa thành công năm 1991.
18.Biết tiếng Trung Quốc (Nghe, nói, viết, đọc); tiếng Anh (Viết, đọc, nói; nghe hơi kém); Biết tiếng campuchia (Chỉ nghe và nói, không viết, đọc được).
19.Biết mắc điện nước gia dụng.
20.Biết các phần mềm công nghệ thông tin (khá nhiều)
21.Biết làm cây cảnh.
22.Biết võ thuật đặc công năm 18 tuổi, môn “Thiếu lâm tự” từ năm 24, 25 tuổi (Học Võ sư Chín Chẩm ở Củ Chi, TP Hồ Chí Minh). Biết chơi bóng chuyền, tenis, bóng bàn, golf.
23. Biết lái ô tô từ 3/ 2006.
24.Biết một chút về viết văn, viết kịch, nghệ thuật sân khấu, đạo diễn. Biết viết báo, làm báo, làm một chút thơ.
25. Biết chụp ảnh, quay camera, dựng phim (Tốt). Biết đánh máy chữ tốc độ khá nhanh từ năm 1999.
26.Có nhiều ý tưởng sáng tạo và vận dụng vào thực tiễn (khá nhiều) ở lĩnh vực kỹ thuật, môi trường và xã hội.
27.Biết kiến thức về xã hội học, dân tộc học, tôn giáo, đối ngoại.
28.Cử nhân Chính trị học (Chuyên ngành triết học Mác- lê nin)
29.Có kiến thức về khoa học thường thức về máy bay, xe tăng, vũ khí, bom mìn, đạn dược.
30.Có kiến thức về bản đồ, địa hình, xác định điểm dứng, đi góc phương vị.
31. Bắn súng: Giỏi AK, Trung liên, khá súng ngắn, biết Đại liên, B41.
32. Có kiến thức về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, nghệ thuật quân sự; Giỏi cấp tỉnh.
33. Có kiến thức quản lý nhà nước và xã hội.
34. Biết làm công tác đảng, công tác chính trị. Biết giảng bài và kiến thức giáo dục học.
35. Biết quan sát đánh giá con người. Có một chút giác quan thứ 6, dự báo tương lai.
36. Biết một chút về phong thủy.
Thế đấy, bố biết chừng ấy thứ và đủ để trở thành một người bố bình thường của các con như ngày hôm nay, đều đó làm bố rất tự hào. Điều bố luôn cảm thấy hạnh phúc chính là có ông bà, che mẹ, có mẹ con,có các con, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp như ngày hôm nay. Bố chỉ mong các con trưởng thành và hạnh phúc như bố, tất nhiên cũng mong con hơn cha nữa chứ.

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

CÁI CỐI GẠO



           Nhà tôi cũng như mọi nhà trong xóm đều có một các cối xay lúa. Thầy tôi thường để ở chái nhà hướng đông.
Cối xay có thớt dưới, thớt trên, váy cối, chân cối, ngõng cối nằm ở thớt dưới, tai cối, cổ áo cối nằm ở thớt trên và  cái để xay là giàng xay có dây treo.
Lúc bà nội tôi còn khoẻ, bà vẫn thường hay ở nhà xay lúa, sàng xẩy. Sau này chị Tiến và anh em tôi cũng đều biết xay lúa cả. Tuy nhiên xay lúa cũng phải biết cách, xay vừa phải, đều tay thì hạt chín nhiều (hạt vỡ trấu) nếu vội mà xay nhanh, nhất là vớ phải cái cối lồng lên sồng sộc thì sống hết. Sống nhiều thì sàng xong, bốc ra phải xay lại, lúc đó gạo sẽ bị nát thành tấm. Lúc xay lúa một mình, bọn gà trống, gà mái hay vào xốc trộm thóc, đuổi chúng không chạy; thế là lại phải lấy một tàu chuối khô buộc vào một bên tai cối để đuổi lũ gà. Ngày bé tôi còn thấy bà tôi lấy cái áo tơi rách buộc vào đó mỗi khi bà xay lúa, đấy là lần cuối cùng tôi nhìn thấy chiếc áo tơi, vì sau này mọi người đều dùng nilon để khoác trời mưa nên áo tơi không còn tồn tại ở quê tôi nữa.
Cối xay lúa
          Tuổi thọ của cối xay phụ thuộc vào chất lượng cối và lượng xay nhiều hay ít. Có nghĩa là chất đất sét, dăm cối và tay nghề thợ đóng cối. Nhà nhiều người thì năng phải đóng lại hơn. Thường cứ một đến hai năm lại đóng lại một lần. Dăm cối thường do thợ đóng cối mang đến, thường là bằng gỗ nghiến, nhưng cũng có khi do gia đình đã chuẩn bị sẵn một ít gỗ nhãn, gỗ vải, thợ đến lại thêm một khâu chẻ dăm rồi mới vào việc được. Mỗi làng thường có một ông thợ đóng cối, nhưng hình như ở làng Dừa lại không có, vì tôi thấy thầy tôi hay mời ông thợ ở Thanh Kỳ hoặc ở Minh Đức sang đóng. Ngày ấy thợ đóng cối thường đến nửa buổi sớm, làm đến trưa ăn cơm qua quít với gia chủ, đến bữa tối thì cơm nước mới thịnh soạn hơn, có con gà, con cá, chai rượu gọi là làm vui. Thợ đi đóng cối cũng chỉ đi kiếm cơm vậy thôi, ngoài tiền dăm cối thì công sá cũng chẳng là bao, chỉ vài đồng bạc.
Tuy thế, nếu nhà có thợ đóng cối cũng vui ra phết. Chúng tôi thường xúm xít xung quanh ông thợ, xem thợ ra nan, vót tre, đan lồng cối. Nếu cối cũ quá thì phải đan tân khoa, việc này hơi lâu, tuy nhiên nếu được gia chủ đồng ý thì ông thợ đan sẵn ở nhà rồi mang đến đóng luôn. Nếu gia chủ không có nhiều tiền thì ông thợ phải chặt tre, ra nan, đan lồng tại gia chủ, tất nhiên tiền công đóng tân khoa sẽ nhiều hơn. Bọn trẻ chúng tôi thường tò mò xem ông thợ lôi ra từng thứ đồ nghề, trong đó có cưa, vồ to, vồ nhỏ, đòn quai bằng lim (Trông như cây thiết bản của Tôn Ngộ Không), nêm to, nêm nhỏ, mỏng dầy khác nhau, liềm vét đất, thích nhất là cái gọi là chân chó. Gọi là các chân chó vì nó giống hệt cái chân chó, ông thợ dùng để miết đất cho nhẵn và để đóng vào những chỗ ngóc ngách của cối mà vồ không thể làm được.
Sau khi đan hoặc dặm lồng cối, ông thợ xem ngõng cối còn dùng được không, nếu đã mòn quá thì thay cái ngõng mới, nếu không khi xay một là gẫy, hai là lồng. Ngõng thường làm bằng gỗ tốt để được lâu, những cái ngõng cối mòn, chỗ tiếp xúc thắt ngẫng lại rất nhẵn và đẹp, chúng tôi thường lấy để chơi.
Qui trình đóng cối nếu tả lại tỉ mỉ thì nhiều khâu lắm. Tóm lại là thế này: Đem đất sét khô ra đập nhỏ, rảy nước cho ẩm đều, cho vào lồng cối để nhồi nện cho chặt. Thớt dưới thì cấy ngõng cối, đặt chân ngõng phải thật chính xác vào chính giữa, đầu ngõng cũng phải cách đều xung quang nên phải đo đi, đo lại nhiều lần trong quá trình nhồi đất. Thớt trên thì phải đặt cổ áo cối và cũng phải làm tương tự như đặt ngõng cối. Khi lượng đất đã đủ và chặt, lật ngược thớt trên để đóng dăm, thớt dưới để nguyên và đóng dăm. Mỗi thớt đều có 8 múi dăm, cùng chạy hình lược theo ngược chiều kim đồng hồ, chính vì thế khi lật thớt trên ngược lại, các múi dăm lại chạy giao nhau, ta xay ngược chiều kim đồng hồ, các mặt dăm xiết vào nhau và kéo gạo và trấu từ trong ra ngoài. Đóng dăm xong, đến khâu nêm. Đầu tiên là dùng nêm mỏng, đóng nêm thật sâu cho chắc dần. Tiếp theo nêm vừa vừa. Cuối cùng là nêm dày nhất, lúc đó đất đã chắc lên đến tận mặt nêm. Quá trình nêm là quá trình người thợ thường xuyên ngắm để chỉnh mặt dăm cho thật phẳng và đều, chỗ nào còn nhô lên lại lấy vồ gõ vào đó cho tụt xuống một chút. Nếu đất chắc rồi, gõ không xuống nữa hoặc sợ long dăm thì ông thợ sẽ lấy dao sắc để gọt, chỉnh cho bằng. Xong khâu đóng dăm, ông thợ lấy cái chân chó đục đất ở thớt trên cho thủng xuống tận cổ áo cối, lấy cái liềm vét đất thành cái phễu thật dốc, đều và nhẵn, lấy chân chó nêm chặt những chỗ gấp khúc mà vồ và đòn không thể với tới. Đây là chỗ để đổ thóc vào xay. Sau đó ông thợ lại úp thớt trên xuống, đem thớt dưới úp ngược vào thớt trên, đoạn nện chặt thêm đáy thớt dưới, lấy liềm vét bằng cho đẹp rồi để chân cối lên đóng 4 cọc vào để giữ chân cối. Thế là công việc gần như hoàn tất. Bây giờ chỉ việc lật cối lên, xay thử xem sống chín, lồng êm thế nào, lấy nêm sửa lại một chút nữa, khi thóc xay chín thế là xong.
Nếu xay thử vẫn sống, (tức là còn nhiều thóc chưa vỡ) thì ông thợ lại bảo: Mấy hôm nữa nó mòn đều dăm rồi nó sẽ chín. Cũng có khi là đúng như thế, cũng có khi không phải thế vì ông thợ chỉ vụng chèo, khéo chống thôi.
Trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước, đàn ông, trai tráng đều đi tham gia đánh Mỹ, ở lại hậu phương còn toàn là các cô, các thím, các chị. Có nhiều trai tráng, trong đó có những người chồng, người cha đã hi sinh ngoài mặt trận, các cô các thím ở nha bỗng dưng trở thành góa phụ, có người còn chưa có con cái rất cám cảnh.
Đóng cối cho mấy bà góa, mấy ông thợ đóng cối thường làm rầy rà nhất. Khi đến nhà cũng bày trò đến muộn để mong ngủ trọ lại một đêm. Lúc đóng cối xong còn cố ý để cối sống, cối lồng để mấy hôm sau quay lại sửa. Mục đích của mấy ông này là để trêu ghẹo, lạm dụng tình cảm của mấy bà góa phụ mà thôi, nên mới nghĩ ra chiêu trò ấy. Tuy nhiên không phải ai cũng cắn câu. Có bà ý tứ đem ông đóng cối sang gửi ngủ nhờ bên hàng xóm, nhà có đàn ông để đỡ mang tiếng, dư luận xì xầm. Ai cũng hiểu chiêu trò này của mấy ông thợ đóng cối tham tình, tham ngãi. Chính vì thế người ta hay trêu mấy bà góa: Thấy bảo hôm nay bên nhà bà có phó cối hử? Phấn khởi nhỉ. Thế là mấy bà lại cười ngặt nghẽo bảo: Báu lắm đấy.
Đóng cối nghe có vẻ rất khó, thế nhưng nếu nhanh ý và quan sát tỉ mỉ một chút cũng có thể làm được. Đến năm 16, 17 tuổi gì đó tôi đã tự mình đập cối nhà mình ra đóng. Do rất hiểu về độ cân bằng, độ nghiêng của dăm cối ở hai thớt cối, tôi đóng xong, dù là tác phẩm đầu tay nhưng không hề phải sửa một chút nào mà xay lúa vẫn rất chín. Tôi nhớ bên hàng xóm ai cũng trầm trồ, có chị Xuyến là chị dâu họ thì cứ xuýt xoa không ngớt: Sao lại không học ở đâu mà đóng đước cối mới tài chứ. Thực ra chúng tôi đã học từ những lần xem đóng cối từ nhỏ rồi, sau này có kiến thức thi việc đó cũng không khó gì cho lắm, có ai không học mà làm được đâu.
Nói cối xay lại phải nói thêm đến cối giã gạo. Cả xóm tôi hàng mấy chục nhà mà cũng chỉ có nhà tôi và nhà ông Bát có cối giã gạo. Tôi cũng không biết có từ bao giờ, nhưng tuổi thọ chắc đã rất lâu vì đát cối đã thủng một lỗ bằng miệng bát, đã phải tré bằng xi măng. Xóm trên có nhà ông Kham, ông Chử, xóm ngoài có Bà Tựa có cối. Cối giã gạo nó gần như một tài sản văn hoá cộng đồng vậy. Chẳng phải nhà nào có cối giã gạo người ta cũng đến giã đâu, phải là gia đình tử tế, sạch sẽ, ân cần, dễ tính.
Cối giã gạo
Cối giã gạo gồm có cần cối, chày, cối đá, tai cối, bệ đứng, tay vịn và chống cối. Chày thường được bịt thép và có đóng dăm bằng gang lưỡi cày gọi là mỏ cối. Cối đá thường được chôn dưới đất, miệng bằng mặt đất. Xung quang miệng cối phải đầm, láng thật nhẵn và sạch để quét gạo và cám trở lại khi giã nó bắn lên. Cần cối là một cây gỗ to, đẽo vuông, dài khoảng hơn 2 m, nặng, đầu to hơn đuôi. Cần cối nhà tôi làm bằng gỗ lim, cây gỗ này nghe đâu do bác Thiện (Bố anh Tranh) mò cái cột đình ở cầu đá mang về. Tai cối thường đục 1/3 phía đuôi cần. Bệ đứng thường liền với bệ đỡ tai cối, đặt và chốt cố định, chắc chắn trên mặt đất, cao hơn mặt đất chừng 10 đến 15 phân để đứng giã, ở trong lòng đào lỗ sâu để đuôi cần cối nhún xuống khi bẩy cần cối lên.
Cối nhà tôi đặt ở dưới bếp, thực ra trước đây là cối nhà bác Thiện, nhưng vì chái nhà bác mưa hắt nên bác đem qua bếp nhà tôi. Người đến giã gạo thường đem gạo xay đến, dù có người hay không có người ở nhà thì cũng nói to lên một câu: Tôi giã nhờ cả nhà cối gạo nhá. Nếu bà tôi ở nhà thế nào cũng nói: Vâng, ai đới? Họ lại bảo: Cháu đơi. Chỉ nghe tiếng bà đã có thể biết chính xác đấy là ai. Giã gạo là giã nhờ thực sự chứ không như thời bây giờ cái gì cũng dịch vụ nên không bao giờ nghĩ đến phải trả công sá gì. Thời điểm người ta đến giã gạo là lúc sau giờ nấu cơm chiều hoặc buổi tối sau khi ăn cơm tối, hoạ hoằn cũng có người đến giã vào ban sáng và ban trưa. Không có ai lại đem giã gạo vào lúc nấu cơm vì khói không giã được, với lại lúc đó nhà ai cũng bận nấu nướng, không có người giã gạo. Dịp gần tết là nhộn nhịp nhất, nhà nào cũng giã hai ba cối liền lúc vì nào là gạo ăn, nấu xôi lại còn gói bánh nữa.
Quanh cái cối giã gạo cũng nhiều chuyện hay ra phết. Mỗi khi giã gạo thường có 2 đến 3 người, hoặc là cùng giã, hoặc là thay nhau. Mỗi cối gạo giã khoảng một nghìn chày là được. Nếu là người lớn đến giã thì thường nói chuyện thời tiết, mùa màng, mạ mộng, kinh nghiệm trồng cấy hoặc thông tin chuyện trong làng ngoài xã. Thời chống Mỹ thì nói những chuyện nghe được trên đài truyền thanh hoặc nghe mấy bác cán bộ kháo nhau về ta thắng ở đâu, bắn rơi máy bay Mỹ bao nhiêu chiếc.
 Mùa đông giã gạo thì ấm chứ mùa hè nóng nực nhễ nhại mồ hôi chẳng ai thích. Nhà nào mà có mấy anh chị em rãu rãu cùng nhau giã thì thế nào cũng cãi nhau chõm choẹ. Thứ nhất là tranh nhau đứng trên cho nhẹ, không bị mỏi chân, chẳng đứa nào muốn đứng dưới cùng vì nặng và mỏi chân nhất. Nếu không phân giải được thì chia, đứa lớn thì đảm nhiệm hết thời gian và đứng sau, còn hai đứa bé mỗi đứa 500 chày, lại đến đận tranh nhau giã trước cho nhẹ vì lúc đó còn trấu, chày nó nẩy, về sau nó mút chày nặng hơn. Đã thế lại đếm ăn gian nóng mốt nóng hai, có khi mới 400 chày đứa trước đã bảo hết phần mình chạy ra, thế là lại chõm choẹ lần nữa. Đến cuối buổi có khi chỉ còn mỗi đứa lớn đảm nhiệm vì không bảo được hai em, hơn nữa cũng đỡ điếc tai. Trường hợp này hay xảy ra ở anh em nhà chị Thu, anh Đông, chị Xuân hoặc Anh Tuyên, Chị Mây và Hưng.
Cạnh nhà tôi có vợ chồng anh Chư, chị Xuyến sinh được toàn con gái, lúc tôi 16, 17 tuổi thì cũng chỉ mới có đứa lớn là đi giã gạo với bố mẹ được. Anh Chư là bộ đội phục viên, cũng rất hài hước. Khi bắt đầu giã gạo anh thường bảo với con gái: Cuộc hành quân thần tốc không di chuyển vị trí của bố con ta bắt đầu. Có hôm vừa giã gạo, anh vừa giảng giải cho con gái lớn cách dỗ em rất qui lát:
-Thế này nhé, khi bố mẹ vắng nhà, nếu trông em mà thấy em khóc thì có một trong ba nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất là đói, lập tức lấy cơm nguội cho em ăn, nghe chưa?
Thứ hai, nếu vẫn khóc thì có thể nóng quá hoặc lạnh quá: Nóng thì quạt, lạnh thì ủ ấm thêm;
Thứ ba, nếu vẫn tiếp tục khóc thì đích thị là ốm, lập tức bế em sang hàng xóm nhờ xem hộ ngay.
Nhớ chưa?
Đứa con thì vâng ạ còn chị Xuyến thì cứ cười ngặt cười nghẽo nghẽo vì cách nói hài hước quân sự của chồng.
Giã gạo mà nên thơ nhất là có đôi nào thích nhau, tối mùa đông mà theo nhau đi giã gạo thì cứ gọi là yên thít, chỉ thấy tiềng chày lúc khoan, lúc nhặt lẫn với tiếng trêu ghẹo nhau khúc khích thôi. Nếu gặp cô nào xinh thì thế nào cũng có vài anh đi theo tranh nhau giã cùng.
Chính vì những lý do này mà tôi nói, cái cối giã gạo giống như một tài sản văn hoá cộng đồng vậy.
Đến những năm 1991, 1992 gì đó thì nhà tôi và nhà chú Ân có mua chung một cái máy xát gạo, xát thuê cho hàng xóm. Lúc đó chưa có điện, máy xát phải chạy bằng một cái máy diezen 15 mã lực, inh cả tai. Máy do Tú con chú Ân, và Trường em trai tôi vận hành. Lúc đó tôi học ở Học viện Chính trị, những ngày nghỉ hè thỉnh thoảng cũng đứng máy thay cho các em. Có một lần máy chạy long lên sòng sọc, rung bần bật không thể nào xát được gạo, nếu tiếp tục chạy nó sẽ phá tan cả máy nổ và máy xát. Không ai biết nguyên nhân tại sao. Tôi lấy sơ đồ tổng thành của máy ra đọc, thuyết minh toàn bằng chữ Trung Quốc, nhưng tôi bập bõng đọc được. Cộng với kiến thức về máy của xe tăng đã học trước đó, tôi đưa ra nhận định:
-Có thể máy bị gãy trục của quả đối trọng.
Tú lúc đó mới bảo:
-À đúng rồi anh ạ, nó là quả văng anh ạ (Tú cũng đi thuyền và cũng biết về máy nổ nên gọi nó là quả văng)
Thế là tôi và Tú tháo máy ra kiểm tra, đúng như dự đoán, máy bị gãy trục quả đối trọng -“Quả văng”.  Tôi bảo Tú lên huyện mua quả đối trọng về để thay, tôi và Tú hì hục tháo ra thay quả mới vào. Có rất nhiều các điểm dấu trên các bánh xe, trục cam cần ghi nhớ, nếu lắp sai máy sẽ không nổ, điều ấy tôi đã để ý và học được trong lần tháo máy này. Khi lắp xong, máy lại chạy êm ru. Đấy là lần đầu tôi sửa máy Diezen và đã thành công. Sau này có điện, máy xát chạy bằng moter điện, tiện lợi hơn nhiều. Nhưng cũng từ đây, cái cối xay lúa và cái cối giã gạo mỗi ngày một vắng bóng đi rồi mất hẳn. Nhưng trong lòng vẫn nhớ như in hình ảnh của nó.